Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Nhung

Bà Nguyễn Thị Minh Loan

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 221/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn Q; sinh năm: 1977; tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số A T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Ngõ G đường Đ, tổ dân phố số C T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q1 và bà Chu Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 04-5-2017 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 17-6-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

2. Họ và tên: Đặng Văn T1; sinh năm: 1996; tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn B, phường H, thành phố N (địa chỉ cũ: Thôn B, xã M, huyện M), tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình T2 và bà Đặng Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 17-6-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

3. Họ và tên: Trần Văn G; sinh năm: 1988; tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Trần Thị D; có vợ: Lê Thị Thanh H và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 16-6-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

4. Họ và tên: Đặng Duy H1; sinh năm: 1994; tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Tiến D1 và bà Đặng Thị H2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 16-6-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 07-6-2024 tổ công tác Công an phường T, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà B đường Đ, phường L, thành phố N phát hiện Trần Văn G điều khiển xe máy biển kiểm soát 18K1- 367.58 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay trái của G 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (1,5 x 2) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong, ký hiệu M1 (Giảng khai là ma túy tổng hợp dạng đá mua về sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn G và tạm giữ của G 01 xe máy biển kiểm soát 18K1- 367.58, 01 điện thoại di động Redmi, màu trắng đen, đều đã cũ.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn G khai nhận: Giảng và Đặng Duy H1 là bạn xã hội quen biết từ lâu, khoảng 08 giờ 10 phút ngày 07-6-2024, G dùng điện thoại Redmi số thuê bao 0912801007 gọi đến số điện thoại 0792.501.xxx của H1 nhờ mua 300.000 đồng ma túy tổng hợp dạng đá mục đích Giảng và H1 sử dụng chung, H1 đồng ý, G điều khiển xe máy biển kiểm soát 18K1- 367.58 đến nhà H1, H1 bảo G chuyển 300.000 đồng tiền mua ma túy vào tài khoản ví Momo của H1. Sau đó, H1 mượn điện thoại của G đăng nhập vào tài khoản ví MoMo của H1 rồi gọi điện cho Q qua ứng dụng Z có tên "TranVanQuang” hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, Q đồng ý, bảo chuyển tiền vào tài khoản số 0949538565 Ngân hàng M1 của Q và khi đến lấy ma túy, ma túy sẽ được Q bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá T để trên bờ tường rào cạnh cổng nhà Q. H1 chuyển tiền vào tài khoản của Q và gửi hình ảnh chụp giao dịch chuyển tiền qua Z cho Q. Sau đó H1 chỉ dẫn cho G đến nhà Q lấy ma túy, đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, G đi xe máy đến cổng nhà Q lấy ma túy ở vị trí như Hữu chỉ dẫn, G mở vỏ bao thuốc lá Thăng L1 ra xem bên trong có ma túy đá, G cầm gói ma túy trên tay phải, rồi vất vỏ bao thuốc lá Thăng L1 đi, điều khiển xe máy về nhà H1 để cùng sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cùng ngày 07-6-2024, Đặng Duy H1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình, Cơ quan điều tra tạm giữ của H1 01 chiếc điện thoại di động Vertu, đã cũ

Căn cứ lời khai của Đặng Duy H1, Cơ quan điều tra triệu tập Trần Văn Q lên làm việc lấy lời khai.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Q khai nhận: Khi H1 gọi điện qua ứng dụng Zalo cho Q hỏi mua ma túy đá, lúc này Q và Đặng Văn T1 đang ngồi ở tầng 1 nhà Q, T1 có biết và nghe rõ nội dung giao dịch mua bán ma túy giữa Q và H1, sau đó Q bảo T1 đi ra bờ tường phía trước nhà Q lấy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1 về cho Q. Q đi đến chiếu nghỉ tầng 1 lấy 01 túi ma túy tổng hợp dạng đá gói bằng nilong màu trắng kích thước khoảng (1,5 x 2) cm ở trong một lọ nhựa hình trụ màu trắng, cất trong túi áo khoác treo trên mắc áo bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá T3 rồi đưa cho T1 bảo mang ra để lên bờ tường tý nữa có khách đến lấy. T1 cầm vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có ma túy tổng hợp dạng đá ra để đúng vị trí Q nói, rồi quay vào nhà Q. Cơ quan điều tra tạm giữ của Q 01 điện thoại di động đã cũ.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai của Trần Văn Q. Cơ quan điều tra tạm giữ của T1 01 điện thoại di động OPPO màu tím, đã cũ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành cho Trần Văn G, Đặng Duy H1, Trần Văn Q và Đặng Văn T1 nhận dạng, kết quả đều nhận ra nhau.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn Q tại địa chỉ ngõ G đường Đ, tổ dân phố số C T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định thu giữ ở trong ngăn kéo tủ quần áo trong phòng trên tầng 2: 01 bình thủy tinh màu trắng cao khoảng 15 cm, 02 đoạn ống thủy tinh một đầu mỗi ống đều hình cầu (không có chất bám dính), 03 đoạn ống nhựa màu trắng đều có kích thước dài khoảng 30 cm, 01 bật lửa trên đầu được cắm 1 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 10 cm; trong ngăn dưới trong khoang tủ quần áo 01 quyển Album kích thước khoảng (15 x 32 x 4) cm trong quyển Album có 01 túi nilong màu trắng kích thước (6 x 9,5) cm bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu K1. Thu giữ trong túi áo khoác treo ở chiếu nghỉ tầng 1: 01 túi vải màu đen trên mặt có chữ W kích thước khoảng (6 x 10) cm, trong túi vải màu đen có 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng kích thước khoảng (8,5 x 3,5 x 1,5) cm bên trong có 15 túi nilong màu trắng kích thước đều khoảng (1,5 x 2) cm, trong mỗi túi đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu K2; 01 túi nilong màu trắng kích thước (4 x 6) cm bên trong có 5 túi nilong màu trắng kích thước đều khoảng (1,5 x 2) cm trong mỗi túi đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu K3, 01 vỏ túi nilong màu trắng kích thước (4 x 7) cm bên trong có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu K4.

Về nguồn gốc số ma túy, Trần Văn Q khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 06-6-2024, Q đi đến khu vực 3 tầng đường P, phường T, thành phố N gặp một người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 túi ma túy tổng hợp dạng đá với giá 3.000.000 đồng mang về nhà chia thành 21 túi nilong màu trắng, sau đó cho 16 túi vào trong lọ nhựa hình trụ màu trắng, 05 túi vào trong một túi nilong màu trắng rồi cất vào 01 túi vải màu đen (ở trong túi vải màu đen có sẵn 01 túi nilong màu trắng có chất bám dính ma túy từ trước). Số ma túy còn lại Q mang lên phòng ngủ tầng 2 cất vào trong quyển Album để ở ngăn dưới tủ quần áo. Đến khoảng 9 giờ 40 phút ngày 07-6-2024 Q lấy một túi ma túy đã để trong lọ nhựa hình trụ màu trắng trong túi vải màu đen bán cho H1 với giá 300.000 đồng, Q lãi được 50.000 đồng. Số ma túy còn lại Q khai nếu có khách hỏi mua sẽ bán 4.000.000 đồng và sẽ lãi 1.000.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 1074/GĐKTHS ngày 12-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 1,5 x 2 cm (vật chứng thu giữ của Trần Văn G) được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,214 gam.

Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu K1, K2, K3 và mẫu dạng tinh thể màu trắng bám dính được niêm phong ký hiệu K4 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu K1: 5,795 gam; Tổng khối lượng mẫu K2: 3,238 gam; Tổng khối lượng mẫu K3: 1,063 gam; Khối lượng mẫu K4: không xác định được khối lượng mẫu.

Bản Cáo trạng số 221/CT-VKS-TPNĐ ngày 09-9-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015; truy tố bị cáo Đặng Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015; truy tố các bị cáo Trần Văn G và Đặng Duy H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 09 (Chín) năm đến 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù; phạt tiền bị cáo từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu) đến 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu) sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 từ 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng đến 03 (Ba) năm tù; phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng (Năm triệu) đến 7.000.000 đồng (Bảy triệu) sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Văn G từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Đặng Duy H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đặng Duy H1 từ 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng đến 02 (H3) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1074/KL-KTHS; 01 (Một) túi niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 1074/KL-KTHS; 01 (Một) bình thủy tinh màu trắng cao khoảng 15cm; 02 (Hai) đoạn ống thủy tinh một đầu mỗi ống đều hình cầu; 03 (Ba) đoạn ống nhựa màu trắng đều dài khoảng 30cm; 01 (Một) bật lửa trên đầu được cắm 1 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 10cm; 01 (Một) túi vải màu đen trên mặt có chữ W kích thước khoảng (6x10)cm.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 1900962 đã thu giữ của Trần Văn Q.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 2155662 đã thu giữ của bị cáo Trần Văn G.
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Văn Q 01 (Một) quyển Album kích thước khoảng (15x32x4)cm.
  • - Trả lại cho bị cáo Đặng Văn T1 01 (Một) chiếc điện thoại di động màu tím mặt sau có chữ OPPO đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 1900960 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Trả lại cho bị cáo Đặng Duy H1 01 (Một) chiếc điện thoại di động màu vàng đen mặt trước có chữ VERTU đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4A 196598 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Truy thu số tiền 300.000 đồng bị cáo Trần Văn Q đã bán ma túy cho Đặng Duy H1.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G, Đặng Duy H1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G, Đặng Duy H1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07-6-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 07-6-2024; bản kết luận giám định số 1074/KL-KTHS ngày 12-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 07-6-2024, tại khu vực trước cửa số nhà B đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Văn G và Đặng Duy H1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,214 gam Methamphetamine mục đích để cùng sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 07-6-2024, tại nhà ở của Trần Văn Q địa chỉ ngõ G đường Đ, tổ dân phố số C T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Trần Văn Q và Đặng Văn T1 đã có hành vi bán trái phép 0,214 gam Methamphetamine cho Trần Văn G để kiếm lợi bất chính. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn Q thu giữ 10,096 gam Methamphetamine Quang cất giữ mục đích để bán cho người khác kiếm lợi bất chính. Như vậy tổng khối lượng ma túy Trần Văn Q mua bán trái phép là 10,310 gam Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội.

Các bị cáo Trần Văn Q và Đặng Văn T1 là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích kiếm lợi bất chính nên bị cáo Trần Văn Q và Đặng Văn T1 vẫn cố ý thực hiện. Khối lượng Methamphetamine bị cáo Trần Văn Q và Đặng Văn T1 bán cho G và H1 là 0,214 gam, ngoài ra bị cáo Trần

Văn Q còn tàng trữ tang trữ Methamphetamine mục đích bán cho người khác kiếm lợi bất chính là 10,096 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy Trần Văn Q mua bán trái phép là 10,310 gam Methamphetamine nên bị cáo Trần Văn Q và Đặng Văn T1 đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Q được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Đặng Văn T1 được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Trần Văn G và Đặng Duy H1 là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Methamphetamine các bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,214 gam nên các bị cáo Trần Văn G và Đặng Duy H1 đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về vai trò của các bị cáo:

Xét vai trò của các bị cáo thấy: Bị cáo Trần Văn Q thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò chủ mưu, là người đi mua ma túy về sau đó chia nhỏ thành nhiều gói để bán; bị cáo Đặng Văn T1 thực hiện hành vi đồng phạm giúp sức cho bị cáo Q, bị cáo là người mang gói ma túy ra địa điểm do Q chỉ đạo để bán kiếm lời. Bị cáo Trần Văn G thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với vai trò khởi xướng, rủ rê; bị cáo Đặng Duy H1 thực hiện hành vi đồng phạm giúp sức cho G, bị cáo là người trực tiếp liên lạc với Q, chuyển tiền mua ma túy sau đó chỉ dẫn cho G đi lấy ma túy về sử dụng chung.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Đặng Duy H1 đã ra đầu thú nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Q là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mặc dù đã được xóa tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Văn Q và Đặng Văn T1 bán ma túy mục đích kiếm lợi bất chính nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Văn G và Đặng Duy H1 tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma túy thu giữ của các bị cáo gồm: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1074/KL-KTHS; 01 (Một) túi niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 1074/KL-KTHS là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) bình thủy tinh màu trắng cao khoảng 15cm; 02 (Hai) đoạn ống thủy tinh một đầu mỗi ống đều hình cầu; 03 (Ba) đoạn ống nhựa màu trắng đều dài khoảng 30cm; 01 (Một) bật lửa trên đầu được cắm 1 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 10cm; 01 (Một) túi vải màu đen trên mặt có chữ W kích thước khoảng (6x10)cm là công cụ bị cáo Trần Văn Q dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 1900962 đã thu giữ của Trần Văn Q và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 2155662 đã thu giữ của bị cáo Trần Văn G, các bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động màu tím mặt sau có chữ OPPO đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 1900960 đã thu giữ của bị cáo Đặng Văn T1 và 01 (Một) chiếc điện thoại di động màu vàng đen mặt trước có chữ VERTU đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4A 196598, xét không liên quan đến vụ án cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - 01 (Một) quyển Album kích thước khoảng (15x32x4)cm đã thu giữ của bị cáo Trần Văn Q, xét không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo Trần Văn Q đã bán ma túy cho Đặng Duy H1 cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với hành vi tàng trữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng ma túy cho bản thân của Trần Văn Q, Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q.

Người phụ nữ bán ma túy cho Trần Văn Q, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra điều tra, xử lý sau.

Chiếc xe máy biển kiểm soát biển kiểm soát 18K1- 367.58 là tài sản của bà Trần Thị D (mẹ đẻ G). Bà D không biết G lấy xe đi mua ma túy sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho bà D.

[9] Về án phí:

Các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

    Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08-6-2024.

    Phạt tiền bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu) sung vào ngân sách Nhà nước.

  2. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy"

    Xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08-6-2024.

    Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    - Xử phạt bị cáo Trần Văn G 02 (H3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07-6-2024.

  4. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    - Xử phạt bị cáo Đặng Duy H1 01 (Một) năm 10 (M) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07-6-2024.

  5. 5. Xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu, tiêu hủy:

    • - 01 (Một) phong bì niêm phong số 1074/KL-KTHS;
    • - 01 (Một) túi niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 1074/KL-KTHS;
    • - 01 (Một) bình thủy tinh màu trắng cao khoảng 15cm;
    • - 02 (Hai) đoạn ống thủy tinh một đầu mỗi ống đều hình cầu;
    • - 03 (Ba) đoạn ống nhựa màu trắng đều dài khoảng 30cm;
    • - 01 (Một) bật lửa trên đầu được cắm 1 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 10cm;
    • - 01 (Một) túi vải màu đen trên mặt có chữ W kích thước khoảng (6x10) cm.

    Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:

    • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 1900962 đã thu giữ của Trần Văn Q
    • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 2155662 đã thu giữ của bị cáo Trần Văn G.

    Trả lại cho các bị cáo (tạm giữ để đảm bảo thi hành án):

    • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động màu tím mặt sau có chữ OPPO đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 1900960 đã thu giữ của bị cáo Đặng Văn T1.
    • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động màu vàng đen mặt trước có chữ VERTU đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4A 196598.

    Trả lại cho bị cáo Trần Văn Q:

    • - 01 (Một) quyển Album kích thước khoảng (15x32x4) cm.

    Truy thu:

    • - Truy thu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) bị cáo Trần Văn Q đã bán ma túy để sung vào ngân sách Nhà nước.

    (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 297/YCN/2024, ngày 20 tháng 9 năm 2024)

  6. Án phí:

    - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo:

    Các bị cáo Trần Văn Q, Đặng Văn T1, Trần Văn G và Đặng Duy H1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 229/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger