|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 229/2024/HS-ST
Ngày: 14-5-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Chính;
2. Ông Trần Văn Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 201/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS, ngày 22/4/2024 đối với:
Bị cáo: Đồng Văn Đ, sinh năm 1988 tại Bắc Giang. Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Tổ B, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đồng Văn Đ1, sinh năm 1961 và bà Trần Thị A, sinh năm 1961. Bị cáo có vợ tên Trần Thị H, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và có 02 con sinh năm 2013 và 2015.
-Tiền án: Ngày 09/02/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bồi thường cho anh Trần Văn H1 số tiền 4.745.000 đồng, theo bản án số 02/2018/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa bồi thường cho anh H1.
-Tiền sự: Không.
-Nhân thân: Ngày 25/12/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ”, 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 750.000 đồng án phí dân sự sở thẩm, bồi thường cho chị Đào Thị T số tiền 15.000.000 đồng, theo bản án số 72/2008/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
Bị bắt, giam giữ từ ngày 23/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 - Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Anh Hà Văn T1, sinh năm 2004. Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đồng Văn Đ là đối tượng có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án. Do muốn có tiền tiêu xài nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
Thực hiện ý định trên, khoảng 14 giờ ngày 21/01/2024, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60S9-1826 đi trên các tuyến đường thuộc phường P và phường L tìm nhà dân sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi Đ điều khiển xe đến khu vực chợ L thì phát hiện anh Hà Văn T1 đang ngồi trên xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60B5-692.26 ở trước cửa hàng bán hải sản tại địa chỉ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong hộc bên trái xe mô tô của anh T1 có để 01 chiếc ví màu nâu, nên Đ điều khiển xe chạy lại và dừng xe kế xe mô tô của anh T1. Lợi dụng lúc anh T1 đi vào trong không chú ý quan sát, Đ đã lén lút chiếm đoạt chiếc ví của anh T1 và điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Đoàn kiểm tra thấy trong ví có 980.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ngân hàng V1 đều mang tên Hà Văn T1, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B3-181.19 mang tên Lài Cái S. Đoàn lấy tiền và các giấy tờ nêu trên cất giấu vào túi quần trái bên trước, còn ví da màu nâu Đ vứt xuống đường rồi điều khiển xe chạy về xưởng gỗ T2 thuộc tổ B, khu phố V, phường P, thành phố B (nơi Đ đang làm việc). Tại đây, Đ giấu số giấy tờ của anh T1 trong bồn cầu trong nhà vệ sinh của xưởng, còn số tiền trộm cắp được Đoàn tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 18 giờ ngày 22/01/2024, Đ đang điều khiển xe đi đến khu vực vòng xoay cổng 11 thuộc khu phố C, phường L thì bị tổ tuần tra của Công an phường L kiểm tra, đưa về trụ sở làm việc, Đ đã tự thú nhận hành vi phạm tội nêu trên. Công an phường L lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Quá trình điều tra, Đồng Văn Đ khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc ví da màu nâu, Đ đã ném ở ngoài đường (không nhớ rõ vị trí) nên không thu hồi được.
- 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ngân hàng V1 mang tên Hà Văn T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả cho anh T1.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B3-181.19 mang tên Lài Cái S. Qua xác minh, giấy tờ trên là của xe mô tô biển số 60B3-181.19, ông S đã bán xe mô tô cho anh Hà Mạnh H2 (là anh họ của anh T1). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả cho anh H2.
- 01 xe mô tô hiệu Wave an pha màu xanh, biển số 60S9-1826, Đ dùng làm phương tiện phạm tội, Đ khai chiếc xe này Đ mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.000.000 đồng và không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua xác minh, chiếc xe trên do ông Lê Văn Đ2, sinh năm 1974, ngụ tại khu phố H, phường P, thành phố B đứng tên chủ sở hữu, năm 2023 (không nhớ chính xác ngày, tháng) ông Đ2 đã bán cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: “01 cái ví da, tài sản đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, model, nguồn gốc xuất xứ nên không đủ cơ sở định giá, Hội đồng thống nhất không định giá”.
Về dân sự: Đồng Văn Đ đã bồi thường cho anh Hà Văn T1 số tiền 980.000 đồng, anh T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Cáo trạng số 222/CT-VKSBH, ngày 10/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Đồng Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đồng V Đoàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 06 đến 08 tháng tù. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Xét thấy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Đồng Văn Đ là đối tượng có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án. Vào khoảng 14 giờ 45 ngày 21/01/2024 tại trước vựa hải sản địa chỉ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đồng Văn Đ có hành vi trộm cắp 01 cái ví da màu nâu, bên trong có số tiền 980.000 đồng; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ngân hàng V1 ghi tên Hà Văn T1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B3-181.19 (ghi tên Lài Cái Sìn) của anh Hà Văn T1 thì bị phát hiện, khởi tố, điều tra xử lý theo quy định.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:
Bị cáo đã bị đưa ra xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, mà tiếp tục phạm tội, thể hiện việc coi thường pháp luật, cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội với cơ quan công an, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong theo yêu cầu của bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc ví da màu nâu, Đ đã ném ở ngoài đường (không nhớ rõ vị trí) nên không thu hồi được.
- 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ngân hàng V1 mang tên Hà Văn T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả cho anh T1 là phù hợp quy định pháp luật.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B3-181.19 mang tên Lài Cái S. Qua xác minh, giấy tờ trên là của xe mô tô biển số 60B3-181.19, ông S đã bán xe mô tô cho anh Hà Mạnh H2 (là anh họ của anh T1). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả cho anh H2 là phù hợp quy định pháp luật.
- 01 xe mô tô hiệu Wave an pha màu xanh, biển số 60S9-1826, Đ dùng làm phương tiện phạm tội, Đ khai chiếc xe này Đ mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.000.000 đồng và không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua xác minh, chiếc xe trên do ông Lê Văn Đ2, sinh năm 1974, ngụ tại khu phố H, phường P, thành phố B đứng tên chủ sở hữu, năm 2023 (không nhớ chính xác ngày, tháng) ông Đ2 đã bán cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp.
[7] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đồng V Đoàn 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày giam giữ 23/01/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đồng Văn Đ phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |
Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 229/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
