Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————————————

Bản án: 229/2024/DS-ST

Ngày: 02-8-2024

V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Chí Lin – Cán bộ Hưu trí.
  • - Bà Trần Thị Đổi – Cán bộ Hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 757/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

Địa chỉ trụ sở: 40-42-44 Phạm Hồng T, phường V, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V – Phó Tổng Giám đốc.

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Tạ Trung N, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: I C, Phường V Quận C, TP . (vắng mặt).

Bị đơn:

  • 1/ Bà Mai Ngọc Y, sinh năm 1960 (vắng mặt)
  • 2/ Ông Lê Văn H, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Tạ Trung N đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần K trình bày như sau: Bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H ký Hợp đồng tín dụng từng lần số 038/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 để vay số tiền 490.000.000 đồng và Hợp đồng tín dụng từng lần số 038-01/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 vay số tiền 460.000.000 đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng Giao dịch G, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất vay 11,1%/năm trong vòng 03 tháng kể từ khi ký hợp đồng, kể từ tháng thứ 4 sẽ điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng. Lãi suất vay sẽ thay đổi trong các trường hợp quy định tại Hợp đồng tín dụng từng lần số 038/22/HĐTD/1502-12284 ngày 16/9/2022 và 038-01/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm.

Theo đó, bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H ký hợp đồng thế chấp số 038/22/HĐTC-BĐS/1502-12284 ngày 14/01/2022 để thế chấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành K602959, số vào số cấp GCN: 1072/QSDĐ/0717-LA do UBND huyện Đ cấp ngày 23/7/1997 đối với thửa đất số: 577, 578 tờ bản đồ số 13, diện tích 1.044m², mục đích sử dụng T, lúa, đất tại xã Đ, huyện Đ, Long An.

Đến hạn trả nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thông báo đến bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H nhưng bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H không thanh toán nợ đúng hạn nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần K khởi kiện bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H với yêu cầu bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H trả khoản nợ gốc là 950.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 02/8/2024 gồm lãi trong hạn là 22.799.096 đồng, phạt chậm trả lãi là 5.284.606 đồng, lãi quá hạn là 236.903.017 đồng, tổng cộng là 1.214.986.719 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 038/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 038-01/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 được ký giữa bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G kể từ ngày 11/7/2023 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền vốn, tiền lãi và tiền phạt chậm trả lãi thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên bán đấu giá tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 038/22/HĐTC-BĐS/1502-12284 ngày 14/01/2022 là thửa đất số: 577, 578 tờ bản đồ số 13, diện tích 1.044m², mục đích sử dụng: T, lúa, đất tại xã Đ, huyện Đ, Long An và trích các nguồn thu nhập khác để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

Ngân hàng K không đồng ý cho bà Y thời gian trả nợ là 03 tháng vì bà Y nợ đã lâu mà vẫn chưa trả.

Bị đơn bà Mai Ngọc Y trình bày theo bản tự khai ngày 12/4/2024 như sau: Bà xác nhận có vay tiền của Ngân hàng K, tính đến ngày 10/7/2023 gốc và lãi là 1.066.256.104 đồng. Nay bà đồng ý trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng K đến khi xét xử nhưng bà xin thời gian 03 tháng để trả số tiền này, bà xin vắng mặt phiên xét xử của Tòa án.

Bị đơn ông Lê Văn H trình bày theo bản tự khai ngày 12/4/2024 như sau: Ông xác định ông và bà Y có vay tiền của Ngân hàng K, nay ông không có điều kiện trả nên ông để cho bà Y toàn quyền quyết định, ông xin vắng mặt phiên xét xử của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Văn H và bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H và bà Mai Ngọc Y hiện có hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã Đ, huyện Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Tạ Trung N là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và ông Lê Văn H và bà Mai Ngọc Y xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về yêu cầu của đương sự: Hợp đồng tín dụng từng lần số 038/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 038-01/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 được ký giữa bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G, hai bên thỏa thuận là Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G cho bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H vay tổng số tiền là 950.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất vay 11,1%/năm trong vòng 03 tháng kể từ khi ký hợp đồng, kể từ tháng thứ 4 sẽ điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm. Bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H vi phạm thời hạn trả nợ nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần K yêu cầu bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H trả số tiền nợ gốc là 950.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 02/8/2024 gồm lãi trong hạn là 22.799.096 đồng, phạt chậm trả lãi là 5.284.606 đồng, lãi quá hạn là 236.903.017 đồng, tổng cộng là 1.214.986.719 đồng

[2.1] Bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H đồng ý trả số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K, nhưng bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H trình bày gia đình đang gặp khó khăn nên xin Ngân hàng Thương mại Cổ phần K cho gia hạn trong thời gian 03 tháng.

[2.2] Xét, các khoản lãi suất các bên đã thỏa thuận phù hợp với các quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 và Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/02/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Ông Lê Văn H và bà Mai Ngọc Y thống nhất với số tiền còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K nên đây là tình tiết sự thật không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.3] Bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H trình bày gia đình đang gặp khó khăn nên xin Ngân hàng Thương mại Cổ phần K cho gia hạn trong thời gian 03 tháng nhưng người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K không đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét. Áp dụng khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1, khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K, buộc bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K tổng số tiền 1.214.986.719 đồng.

[2.4] Bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H phải tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 038/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 038-01/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 được ký giữa bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G kể từ ngày 03/8/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K là phù hợp với Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[2.5] Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 038/22/HĐTC-BĐS/1502-12284 ngày 14/01/2022 là thửa đất số: 577, 578 tờ bản đồ số 13, diện tích 1.044m², mục đích sử dụng: T, lúa, đất tại xã Đ, huyện Đ, Long An để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H. Trường hợp tài sản thế chấp của bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

[3] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí thẩm định, định giá, đo đạc: Bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H 5.000.000 đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đã nộp xong, bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H có trách nhiệm hoàn trả số tiền 5.000.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1;

Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K do ông Nguyễn Tạ Trung N đại diện theo ủy quyền “tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H.

Buộc bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền nợ gốc là 950.000.000 đồng, lãi trong hạn là 22.799.096 đồng, phạt chậm trả lãi là 5.284.606 đồng, lãi quá hạn là 236.903.017 đồng, tổng cộng là 1.214.986.719 đồng (Một tỷ hai trăm mười bốn triệu, chín trăm tám mươi sáu ngàn, bảy trăm mười chín đồng).

Bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H phải tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 038/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 038-01/22/HĐTD/1502-12284 ngày 14/01/2022 được ký giữa bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G kể từ ngày 03/8/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 038/22/HĐTC-BĐS/1502-12284 ngày 14/01/2022 là thửa đất số: 577, 578 tờ bản đồ số 13, diện tích 1.044m², mục đích sử dụng: T, lúa, đất tại xã Đ, huyện Đ, Long An để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H. Trường hợp tài sản thế chấp của bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K cho đến khi hết nợ.

2. Về chi phí thẩm định, định giá, đo đạc: Bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H 5.000.000 đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đã nộp xong, bà Mai Ngọc Y, ông Lê Văn H có trách nhiệm hoàn trả số tiền 5.000.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

3. Về án phí: Bà Mai Ngọc Y và ông Lê Văn H được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền 21.993.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006332 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSND huyện Đức Hòa;
  • -TAND tỉnh Long An;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/DS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 229/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger