|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 228/2024/HS-ST Ngày: 26-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quỹ
2. Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 220/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị D, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1971; tại: Tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Số G, Tập thể sở điện C, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số A N, phường C (phường T cũ), thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đăng P và bà Đỗ Thị H (đều đã chết); có chồng: Đỗ Trọng V (đã chết); có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 51/2015/HS-ST ngày 14-5-2015, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30-6-2024, chuyển tạm giam ngày 09-7-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố N, tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Trần Thanh T và ông Trần Trung T1 (không triệu tập đến phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30-6-2024, tổ công tác Công an phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ G đường T, phường T, thành phố N. Phát hiện Trần Thị D có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, D thả từ tay trái xuống đường 01 túi nilong màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (D khai là túi ma túy tổng hợp vừa mua chung với bạn). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thị D theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của D 01 điện thoại Samsung màu đen (đã cũ) và số tiền 250.000 đồng.
Bản kết luận giám định số 1231/KL - KTHS ngày 05-7-2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,420 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị D khai nhận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 30-6-2024, D đang ở nhà thì có một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi xe máy đến rủ D góp 50.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung. D đồng ý đi cùng người đàn ông đến khu vực ngõ G đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, đến nơi do không có tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng nên D đưa cho người đàn ông tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. D đứng coi xe, còn người đàn ông đi bộ vào mua ma túy. Khoảng 10 phút sau người đàn ông đi ra đưa cho D tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 01 túi ma túy đá. D cầm ma túy và tờ tiền lên xe người đàn ông chở đi về, khi cả hai đi đến ngõ G đường T, phường T, thành phố N thì người đàn ông dừng xe bảo D đứng đợi đi mua nước ngọt. D cất tờ tiền 50.000 đồng vào túi quần bên trái đang mặc, còn túi ma túy đá D cầm trên tay phải đi vào ngõ G đường T thì bị tôt công tác phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 224/CT-VKSND-TPNĐ ngày 09-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Thị D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị D đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Thị D tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị D từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo Trần Thị D nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị D trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Bản kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 05-7-2024 của Phòng K, Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 02 giờ ngày 30-6-2024, tại ngõ G đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Trần Thị D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,420 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trần Thị D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,420 gam nên bị cáo Trần Thị D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Thị D không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị D là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo Trần Thị D không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Thị D là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại Samsung màu đen (đã cũ) và số tiền 250.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng đi mua ma túy cùng với Trần Thị D, tài liệu chưa đủ căn cứ kết luận nên cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí:
Bị cáo Trần Thị D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30-6-2024.
- Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy túi ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1231/KL - KTHS của Phòng K, Công an tỉnh N.
- Trả lại cho bị cáo Trần Thị D: 01 điện thoại Samsung màu đen (đã cũ); số tiền 250.000 đồng (theo ủy nhiệm chi số 20 ngày 25-9-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-9-2024).
- Án phí:
- - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Trần Thị D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
- Bị cáo Trần Thị D có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Thị D có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thu Định |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 228/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
