Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 228/2025/DS-PT

Ngày: 05/6/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất;

Yêu cầu hủy quyết định cá biệt”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang

Bà Nguyễn Thị Kim Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Linh Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hoàng Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 246/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy quyết định cá biệt”. Do bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ bị kháng cáo, kháng nghị giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1979

Bà Lê Thị Hồng L, sinh năm: 1990.

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã X, huyện C, Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Nguyễn Văn S.

Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1970 (đã chết).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:

  1. Bà Hoàng Thị X, sinh năm; 1978.
  2. Địa chỉ: Tổ 1, ấp Đồng Tâm, xã Xuân Mỹ, huyện Cẩm Mỹ, Đồng Nai

  3. Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1998.
  4. Địa chỉ: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1952.
  2. Địa chỉ: Ấp Đ, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  3. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm: 1953 (đã chết).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông C1:

  • - Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1965.
  • - Chị Nguyễn Thảo N, sinh năm; 1996.
  • - Anh Nguyễn Hoài H, sinh năm: 1999.
  • Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1956.
  2. Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1959.
  4. Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  5. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1961.
  6. Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm: 1965.
  7. Địa chỉ: Số nhà C hẻm S, đường P, tổ B, khu C, thị trấn L, huyện L, Đồng Nai.

  8. Ông Nguyễn Phi L2, sinh năm: 1963.
  9. Địa chỉ: Ấp Đ, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  10. Bà Nguyễn Thị R, sinh năm: 1965.
  11. Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  12. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1968.
  13. Địa chỉ: Ấp Đ, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  14. Bà Hoàng Thị X, sinh năm; 1978.
  15. Chị Nguyễn Thị Mai H2, sinh năm: 1998.
  16. Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã X, huyện C, Đồng Nai.

    Đại diện theo ủy quyền cho bà H2: Bà Hoàng Thị X.

  17. Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1998.
  18. Địa chỉ: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

    Đại diện theo ủy quyền cho bà T: Bà Phan Thị Bích .

  19. Bà Phan Thị B, sinh năm: 1978. (vắng mặt)
  20. Địa chỉ: Ấp Đ, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  21. Ông Đặng Thanh B1, sinh năm: 1974.
  22. Địa chỉ: Số A N, khu phố I, phường T, thành phố B, Đồng Nai.

  23. Văn phòng C2.
  24. Địa chỉ: Số A đường N, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  25. Uỷ ban nhân dân (gọi tắt UBND) xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  26. Địa chỉ: xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  27. UBND huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  28. Địa chỉ: Khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

    (có mặt ông S, bà X; các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 13/3/2019, đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày 02/02/2023 các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và là người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng L trình bày:

Ông Nguyễn Văn S là con của bà Nguyễn Thị M (là cháu ngoại của ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị P1). Sinh thời, ông bà ngoại sinh được 08 người con gồm bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Phi L2, bà Nguyễn Thị R, ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Văn C.

Thửa đất số 35, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn D, vào khoảng năm 2008 thì ông D tặng cho ông Nguyễn Văn H1 thửa đất này, khi cho có làm giấy tờ tặng cho quyền sử dụng đất, sau đó ông H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2018 thì ông H1 chuyển nhượng thửa đất này cho vợ chồng ông bà, khi chuyển nhượng các bên có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 01/10/2018 (số công chứng 4500, quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGĐ), tại Văn phòng C3. Khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 35, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai từ ông Nguyễn Văn H1 thì trên một phần thửa đất có gia đình ông Nguyễn Văn C đang sinh sống. Khi chuyển nhượng ông Nguyễn Văn H1 có nói gia đình ông Nguyễn Văn C sống trên đất là do ông H1 cho ở tạm trên đất. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông H1 ông bà yêu cầu gia đình ông C di dời tài sản để ông bà lấy đất canh tác, nhưng gia đình ông C không đồng ý trả lại đất cho ông bà.

Ông bà yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn C (người kế thừa quyền, nghĩa vụ là bà Hoàng Thị X, chị Nguyễn Thị Thanh T) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị X, chị Nguyễn Thị Mai H2 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L diện tích đất 368.6m², thuộc một phần thửa đất số 35, tờ 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Ông bà đồng ý thanh toán giá trị các tài sản trên đất cho bà X, bà H2; ông bà sẽ được quyền sở hữu các tài sản trên đất.

Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị X trình bày:

Bà Hoàng Thị X và ông Nguyễn Văn C kết hôn với nhau vào năm 2013, sau khi kết hôn thì bà X về sống chung với ông C trên phần đất thuộc một phần thửa đất số 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Nguồn gốc thửa đất này là của ông Nguyễn Văn D, vào năm 2004 ông Nguyễn Văn C thuộc diện được cấp nhà tình thương của UBND xã X, nên ông C có xin ông D một phần diện tích đất của thửa đất số 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để xây nhà tình thương, ông D đồng ý và có làm giấy cho đất viết vào ngày 20/12/2004, có chữ ký của ông D, ông C và chữ ký của trưởng ấp là ông Nguyễn Tăng N1, nhưng bản chính giấy cho đất này bị thất lạc. Trước năm 2004 thì ông D có cho ông C một phần đất thuộc thửa đất 69, tờ bản đồ 10 (BĐĐC cũ), thửa mới là thửa 49, tờ 29, tọa lạc tại xã X, phần đất này giáp với phần đất đang tranh chấp, tuy nhiên nếu xây nhà tình thương trên phần đất này thì không thuận tiện, nên ông C mới xin ông D một phần thửa đất số 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để xây nhà tình thương. Ngày 28/01/2005 ông C được cấp nhà tình thương với diện tích 45m² với chiều dài 10.5; rộng 4m. (bl 56)

Khi cho đất, ông C không tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì lúc đó cha con với nhau nên không cần thiết phải làm thủ tục tách thửa, đồng thời lúc đó làm thủ tục tách thửa tốn tiền nên tạm thời ông C không tách thửa, trong cùng năm 2004 thì ông C có làm biên bản xác định ranh giới, mốc giới đất, biên bản này có chữ ký của ông D, ông C, cán bộ đo đạc và những người sống xung quanh đất. Vào năm 2007 ông H1 được ông D cho phần đất còn lại của thửa đất số 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, phần đất này trừ ra phần đất mà ông D đã cho ông C, nhưng khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng thì ông H1 gộp chung phần đất mà ông D cho ông C vào phần đất mà mình được cho. Việc này ông C không biết, khi xảy ra tranh chấp thì ông C và bà mới biết việc này.

Việc ông S nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai của ông H1 là không đúng, lý do ông S biết đất tranh chấp nhưng vẫn mua bán. Khi ông S nhận chuyển nhượng đất từ ông H1 thì gia đình bà với ông H1 đang tranh chấp và đang được UBND xã X giải quyết, khi ông S mua đất của ông H1 cũng không thông báo cho vợ chồng bà biết mặc dù lúc đó vợ chồng bà đang sinh sống trên phần đất tranh chấp này. Việc tranh chấp bắt đầu xảy ra vào năm 2015, lý do lúc đó gia đình bà xây hàng rào và cổng thì ông H1 vào đập phá không cho xây nên mới phát sinh tranh chấp. Các bên có ra UBND xã X để giải quyết, hòa giải nhưng không thành. Trong năm 2015, thì ông H1 và cán bộ xã có đo đất thỏa thuận phương án hòa giải, lúc đó ông H1 có nói sẽ để cho vợ chồng bà 12m chiều ngang, nhưng phần giáp đất của ông Nguyễn Phi L2 phải trừ ra 01m chiều ngang để cho ông L2. Lúc đó, vợ chồng bà thấy phương án này không được vì phải đập chuồng heo của vợ chồng bà, nên ông H1 không đồng ý làm giấy tờ và phát sinh tranh chấp. Sau đó ông H1 bán cho ông S phần đất mà ông D cho ông C. Việc ông S trình bày căn cứ vào Quyết định ly hôn giữa ông C bà B để nói là ông C mượn đất là không đúng, do lúc ly hôn ông C không muốn chia đất cho bà B nên mới ghi là mượn đất của ông H1, chứ thực tế không có việc cho mượn đất, nếu ông H1 cho ông C mượn đất thì phải có bằng chứng, giấy cho mượn đất có chữ ký của các bên và người làm chứng. Do đó, bà X với ông C không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bà X có đơn yêu cầu độc lập đề nghị hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 với ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L ký ngày 01/10/2018 (số công chứng 4500, quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGĐ), tại Văn phòng C3 đối với diện tích đất 368,6m² thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

- Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn ông Nguyễn Văn C và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T, người đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị B trình bày trình bày: Việc tranh chấp giữa ông S và ông C không liên quan đến bà nên bà không có ý kiến, yêu cầu gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 35, tờ bản đồ 29, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai là do bố mẹ ông là ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị P1 khai phá, sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi chết cha ông đã phân chia cho mỗi người một phần đất. Còn lại diện tích đất 850 m² đất thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10; diện tích 1.693 m², thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10; diện tích 2.116 m² thuộc thửa 55, tờ bản đồ 10; diện tích đất 1.889 m² thuộc thửa 54 tờ bản đồ 10 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì chưa chia. Đến năm 2005 khi ông D chết thì bà P1 cùng các anh chị em của ông thống nhất phân chia di sản thừa kế. Theo đó, ông nhận được phần di sản thừa kế là diện tích đất 1.693 m², thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10; diện tích 2.116 m² thuộc thửa 55, tờ bản đồ 10; diện tích đất 1.889 m² thuộc thửa 54 tờ bản đồ 10 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Việc ông nhận thừa kế đối với các phần đất trên đều có sự đồng ý của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha ông. Ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các phần đất nói trên, đến năm 2016 thì ông làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa 35, tờ bản đồ số 10 đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa mới là thửa đất số 35, tờ 29), diện tích 2.197,9m². Trên phần đất thuộc thửa 55, tờ bản đồ 10 nay là thửa 35, tờ 29 xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai có một căn nhà tình thương do UBND xã X cấp cho ông Nguyễn Văn C, trước khi cha ông chết thì cha mẹ ông cho ông C mượn một phần đất thuộc thửa 55, tờ bản đồ số 10 xã X, huyện C để ông C xây nhà tình thương. Việc cha mẹ ông cho ông C mượn đất cất nhà tạm có họp gia đình để nói với các con nhưng không lập thành văn bản. Thời điểm gia đình ông thỏa thuận chia di sản thừa kế thì trên thửa đất 55, tờ bản đồ số 10, xã X, huyện C vẫn đang có căn nhà tình thương của ông C, có vợ chồng ông C và con gái đang ở trên đất. Sau khi ông làm xong thủ tục nhận thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông vẫn thỏa thuận cho ông C tiếp tục ở lại căn nhà tình thương trên thửa đất số 55, tờ 10 và không thỏa thuận thời gian cho gia đình ông C ở nhà tình thương trên đất bao lâu. Sau này ông C tự ý xây thêm bếp, nhà vệ sinh, chuồng heo mà không được sự đồng ý của ông. Đến khi vợ chồng ông C làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ thì vợ chồng ông C đã ký biên bản thỏa thuận trả lại cho ông phần đất mà ông cho ở nhờ thuộc một phần thửa 55, tờ 10 nay là thửa 35, tờ 29. Sau khi vợ chồng ông C ly hôn và ký biên bản trả đất cho ông thì ông vẫn cho ông C và con gái ở lại căn nhà tình thương, việc thỏa thuận không ghi biên bản. Đến năm 2018, do gặp khó khăn về kinh tế nên ông chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 55, tờ 10 nay là thửa 35, tờ 29 cho ông Nguyễn Văn S. Ông chỉ chuyển nhượng đất cho ông S chứ không chuyển nhượng tài sản trên đất. Trước khi chuyển nhượng cho ông S, ông đã nói rõ với ông S về căn nhà tình thương và tài sản trên đất của ông C, ông S và ông C sẽ thỏa thuận xử lý tài sản trên đất sau, việc này ông S đồng ý. Ông chuyển nhượng đất không thông báo cho ông C vì trước đây ông C đã ký biên bản trả lại đất cho ông. Việc chuyển nhượng đất giữa ông với ông S đã thực hiện xong, ông S đã giao đủ tiền chuyển nhượng cho ông và ông S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông đã giao đất cho ông S quản lý sử dụng từ năm 2018 đến nay.

Ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc L3 trình bày:

Thống nhất với lời khai của ông Nguyễn Văn H1, thửa 35, tờ bản đồ 29, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai là do bố mẹ chồng của bà là ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị P1 cho ông Nguyễn Văn H1. Đến năm 2018 ông H1 chuyển nhượng thửa đất này cho ông Nguyễn Văn S, do là vợ ông H1 nên bà cũng ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng. Bà không liên quan đến thửa đất này, do đó, việc bà X yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà với ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L bà không có ý kiến, việc này do ông H1 quyết định, bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 35, tờ bản đồ 29, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai là do bố mẹ ông là ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị P1 khai phá, sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến năm 2005 khi ông D chết thì bà P1 cùng các anh chị em của ông thống nhất phân chia di sản thừa kế, theo đó thống nhất cho ông Nguyễn Văn H1 được nhận di sản thừa kế là diện tích đất 1.693 m², thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10; diện tích 2.116 m² thuộc thửa 55, tờ bản đồ 10; diện tích đất 1.889 m² thuộc thửa 54 tờ bản đồ 10 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, đồng thời ông H1 có trách nhiệm thờ cúng ông bà. Ông chỉ có mặt ký tên giấy tờ phân chia di sản thừa kế, sau đó ông H1 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý, sử dụng đất như thế nào thì ông không biết. Trên phần đất thuộc thửa 55, tờ bản đồ 10 nay là thửa 35, tờ 29 xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai mà ông H1 nhận thừa kế có một căn nhà tình thương do UBND xã X cấp cho ông Nguyễn Văn C, trước khi cha ông chết thì cha mẹ ông cho ông C mượn một phần đất thuộc thửa 55, tờ bản đồ số 10 xã X, huyện C của cha mẹ ông để ông C cất nhà tạm để ở, ban đầu chỉ là nhà cây, mái lá. Việc cha mẹ ông cho ông C mượn đất cất nhà tạm có họp gia đình để nói với các con nhưng không lập thành văn bản. Thời điểm gia đình ông thỏa thuận chia di sản thừa kế thì trên thửa đất 55, tờ bản đồ số 10, xã X, huyện C vẫn đang có căn nhà tình thương của ông C, có vợ chồng ông C và con gái đang ở trên đất. Lúc chia di sản thừa kế thì mẹ ông và các anh em của ông không thỏa thuận về việc giải quyết căn nhà tình thương của ông C như thế nào. Sau khi chia thừa kế xong thì ông C và vợ con vẫn tiếp tục ở lại căn nhà tình thương. Ông chỉ biết như vậy, còn việc ông H1 chuyển nhượng đất cho ông S như thế nào thì ông không biết. Nay ông S khởi kiện yêu cầu gia đình ông C di dời tài sản khỏi thửa đất số 35, tờ 29 tọa lạc tại xã X, huyện C, thì ông không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 là anh Nguyễn Hoài H, chị Nguyễn Thảo N và bà Trịnh Thị Kim O1 trình bày: Việc tranh chấp giữa ông S và ông C các ông bà không biết, không liên quan đến việc này. Đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị R trình bày: Đối với vụ án tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn S với ông Nguyễn Văn C, bà không có tranh chấp và yêu cầu gì, nguyên đơn khởi kiện thì bà đồng ý, do bà ở xa không đến Tòa án làm việc được nên xin được vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phi L2, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn P trình bày:

Các ông bà là con của ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị P1. Qúa trình chung sống cha mẹ bà sinh được 08 người con gồm bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Phi L2, bà Nguyễn Thị R, ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Văn C.

Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 35, tờ bản đồ 29, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai là do cha mẹ các ông bà khai phá, sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trước đây bố mẹ các ông bà có diện tích đất lớn, khi bố các ông bà còn sống có chia cho những người con trai mỗi người một diện tích đất mà ông bà có, mỗi người được một diện tích đất khoảng 3.000m², còn con gái thì không được chia, sau khi bố các ông bà chia đất thì các anh em trai làm thủ tục sang tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó ông C được chia khoảng gần 3.000m² đất, bà Nguyễn Thị M là mẹ của ông Nguyễn Văn S không được chia đất, ông Nguyễn Văn H1 được chia diện tích gần 3.000m², còn phần đất tranh chấp thì khi bố các ông bà còn sống ông Nguyễn Văn C mượn xây nhà tình thương để ở, do phần đất này trước kia ông Nguyễn Văn P ở trên phần đất này, có nhà trên đất, sau đó ông P bỏ đi sống nơi khác, trên đất có sẵn nền nhà của ông P nên ông C mới xin ông D cho mượn đất để xây nhà tình thương trên nền nhà cũ của anh P. Sau khi ông D chết thì anh chị em các ông bà thỏa thuận phân chia di sản thừa kế như sau, đồng ý cho ông H1 được sử dụng phần đất có diện tích 1.693 m², thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10; diện tích 2.116 m² thuộc thửa 55, tờ bản đồ 10; diện tích đất 1.889 m² thuộc thửa 54 tờ bản đồ 10 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Ông L2 được sử dụng diện tích đất 850 m² đất thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10. Các ông bà làm văn bản phân chia tài sản thửa kế đúng theo quy định của pháp luật, các anh chị em đều ký tên vào văn bản này, sau đó ông H1 làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H1 tiếp tục cho ông C được ở nhờ trên đất. Sau đó ông H1 bán phần đất đang tranh chấp này cho ông Nguyễn Văn S. Việc ông H1 được hưởng phần thừa kế của ông D là đúng quy định của pháp luật, lúc đó ông C cũng ký tên vào văn bản phân chia tài sản thửa kế này nên việc các ông bà xác nhận để cho ông H1 sử dụng đất là đúng quy định. Các ông bà không có ý kiến gì, không tranh chấp gì trong vụ án này. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2020 bà thống nhất lời khai của ông Nguyễn Phi L2, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn P.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/6/2024 bà T2 thay đổi lời khai như sau: Do tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2020 bà bị nhầm lẫn nên bà đề nghị Tòa án cho bà trình bày lại. Bà đồng ý cho ông H1 được sử dụng phần đất có diện tích 1.993 m², thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10, đáng lý trong văn bản phân chia thừa kế phải ghi là 1.693m² đất trồng cây lây năm và 300m² đất thổ cư, nhưng không hiểu sao văn bản lại ghi “trong đó có 300m² đất thổ cư”. Trong văn bản phân chia thừa kế này các ông bà thỏa thuận phân chia toàn bộ thửa 54, 55, 68 tờ bản đồ số 10 cho ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Phi L2, không để lại một phần diện tích đất cho ai khác, nếu có phân chia thì trong văn bản này các ông bà phải ghi tên vào luôn. Các thửa đất này không liên quan đến ông C nên không có chuyện cha của bà cho ông C một phần đất đang tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B trình bày:

Bà với ông C chúng sống với nhau từ năm 1997, khi chúng sống chung ông bà có đăng ký kết hôn vào năm 1997, đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, trong quá trình chung sống ông bà có 01 người con, tên Nguyễn Thị Thanh T. Sau đó vì mâu thuẫn gia đình nên ông bà ly hôn và đã Quyết định ly hôn của Tòa án, Quyết định số 12/2012/QĐST-HNGĐ ngày 16/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ. Theo nội dung thỏa thuận, thì con chung là cháu Nguyễn Thị Thanh T do ông C nuôi dưỡng, còn tài sản chung thì ông C được sở hữu 01 căn nhà cấp 4 (nhà tình thương), vật kiến trúc và cây trồng gắn liền trên diện tích đất của ông C (thửa 69, tờ bản đồ 10, xã X) và phần đất của ông Nguyễn Văn H1 cho mượn (nằm trong thửa 68, tờ bản đồ số 10, xã X); chia cho bà được sử dụng số tiền tiết kiệm là 64.000.000 đồng và số tiền chênh lệch ông C trả lại cho tôi là 18.000.000 đồng. Sau đó ông bà đã thực hiện theo nội dung đã thỏa thuân. Phần đất tranh chấp thuộc thửa thửa 68, tờ bản đồ số 10, xã X (thửa mới bà không biết) có nguồn do bố mẹ của ông C là ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị P1 khai phá. Khoảng năm 2005 thì do không có nhà ở nên bà với ông C xin bố mẹ ông C cho mượn đất để xây nhà, lúc đó trên phần đất tranh chấp cho sẵn nền nhà của ông P (anh của ông C), nên bà với ông C nói với cha mẹ ông C cho mượn phần đất có nền nhà này để xây nhà, sau khi cha mẹ ông C cho mượn đất thì bà với ông C ra UBND xã X làm thủ tục để xây nhà tình thương trên phần đất này. Sau khi ông D mất thì, mẹ ông C, ông C và anh em của ông C thỏa thuận cho ông Nguyễn Văn H1 phần đất tranh chấp này. Còn ông C được bố mẹ mình cho phần đất khác tại thửa thửa 69, tờ bản đồ số 10, xã X, phần đất này bố mẹ ông C cho ông C trước khi cho ông H1 phần đất đang tranh chấp. Sau khi bà với ông C ly hôn thì việc mua bán, chuyển nhượng và tranh chấp phần đất này bà không biết. Bà không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của ông S, phần đất tranh chấp này của bố mẹ ông C cho ông Nguyễn Văn H1, chỉ cho bà với ông C mượn để xây nhà ở. Bà không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bích T3 trình bày: Không có ý kiến và yêu cầu trong vụ án này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đăng Thanh B2 trình bày: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 với ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L ký ngày 01/10/2018 (số công chứng 4500, quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGĐ), tại Văn phòng C3 đối với thửa 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai đã được thực hiện đúng theo trình tự và thủ tục công chứng, đúng quy định pháp luật. Tại thời điểm công chứng VPCC không nhận được bất cứ công văn ngăn chặn nào của cơ quan có thẩm quyền về thửa đất trên đang tranh chấp, kê biên ngăn chặn, cầm cố, góp vốn, cho thuê. Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, xin vắng mặt tại phiên tòa.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã xét xử:

Căn cứ Các Điều 107, 163, 164, 166, 117, 119, 468, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự; Điều 203, 100, 167 của Luật Đất đai.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L đối với những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn C là bà Hoàng Thị X, chị Nguyễn Thị Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị X, bà Nguyễn Thị Mai H2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Buộc bà Hoàng Thị X, chị Nguyễn Thị Thanh T, chị Nguyễn Thị Mai H2 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L diện tích đất 368.6m² được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 1 thuộc một phần thửa đất số 35, tờ 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai (Theo bản vẽ số 1758/2023, ngày 06/4/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, chi nhánh C4).

    Ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L được quyền sở hữu: 01 cổng, hàng rào trước dài 17,6m²; 01 hàng rào lưới B40 dài 16,52m²; 01 hàng rào bên hông dài 9,28m²; 01 sân có diện tích 61m²; 01 phòng tắm + vệ sinh có diện tích 3,4 m²; 01 nhà kho có diện tích 19,3m²; 01 chuồng heo có diện tích 99,7m²; 01 chuồng heo do nguyên đơn chỉ dẫn thêm có diện tích 25m²; 01 chuồng gà có diện tích 9m²; 01 nhà ở gia đình có diện tích 45,2m²; 01 bếp phụ có diện tích 12,8m²; 01 cây mai, 01 cây bơ, 01 cây vú sữa (diện tích, kết cấu, đặc điểm, đặc điểm kinh tế- kỹ thuật theo Chứng thư thẩm định giá số 71/2023/TĐG-CT ngày 11/04/2023 của Công ty cổ phần T4). Bà Hoàng Thị X, chị Nguyễn Thị Mai H2 phải có nghĩa vụ giao cho ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L các tài sản gắn liền với đất như trên.

  3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Hoàng Thị X về việc: yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 với ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L ký ngày 01/10/2018 (số công chứng 4500, quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGĐ), tại Văn phòng C3 đối với diện tích đất 368,6m² thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  4. Về nghĩa vụ thanh toán: Buộc ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L liên đới thanh toán cho bà Hoàng Thị X số tiền 192.161.260 (một trăm chín mươi hai triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi) đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 17/6/2024 bà Hoàng Thị X kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 11/QĐKNPT-VKS-DS ngày 19/6/2024 của Viện trưởng VKSND huyện Cẩm Mỹ đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hoàng Thị X về việc hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 với ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị Hồng L đối với diện tích đất 368,6m² thuộc một phần thửa đất số 35, tờ bản đồ 29, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về nội dung kháng cáo kháng nghị:

Theo hồ sơ thể hiện thời điểm năm 2004 ông C được ông D cho một phần đất của thửa đất 68, tờ bản đồ số 10, trên cơ sở đó UBND xã mới xây nhà tình thương cho ông C. Phần đất trên đã có tranh chấp từ năm 2015, chưa được giải quyết dứt điểm. Năm 2018 ông H1 lại bán hết phần đất được nhận di sản thừa kế bao gồm cả phần đất tranh chấp cho ông S là không đảm bảo quy định pháp luật.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hoàng Thị X là chưa xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên đã đưa ra phán quyết xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn C và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ là có căn cứ.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi làm rõ nội dung vụ án nhận thấy cấp sơ thẩm không có giải thích cho các đương sự biết trong trường hợp có yêu cầu tuyên hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 với ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị Hồng L ký ngày 01/10/2018 thì các đương sự có yêu cầu giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng hay không là thiếu sót. Sau khi được cấp phúc thẩm giải thích, ông Nguyễn Văn S có yêu cầu bồi thường trong trường hợp nếu yêu cầu độc lập của bà Hoàng Thị X được chấp nhận.

Ngoài ra, qua hỏi bà X cho biết phần diện tích khoảng 424,6m² ông H1 cho ông C là đất trồng cây lâu năm, phần nhà tình thương xây trên đó chỉ có diện tích 45m². Trường hợp nếu chấp nhận kháng cáo của bà X thì đối với phần diện tích đất được hủy một phần của hợp đồng chuyển nhượng đất sẽ không rõ có đủ điều kiện tách thửa theo quy định pháp luật hay không, sẽ gây khó khăn cho việc thi hành trên thực tế.

Do đó, để giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ sẽ được Tòa cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

[1] Về thủ tục tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, đơn kháng cáo của bà Hoàng Thị X làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí theo quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị hủy bản án sơ thẩm, phù hợp quy định tại Điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Xét nội dung kháng cáo và kháng nghị, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Nguồn gốc thửa đất số 35, tờ bản đồ 29, xã X, huyện C (trước đây là thửa đất số 68, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.843m²), trong đó có 300m² đất thổ cư và 2.543m² đất cà phê được UBND huyện L (cũ) cấp giấy CNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn D ngày 14/04/1997, ngay 07/03/2005, ông Nguyễn Văn D chết, hàng thừa kế thứ nhất của ông D là bà Lê Thị P1 cùng 09 người con ruột là bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Phi L2, bà Nguyễn Thị R, ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn Văn C cùng thống nhất thỏa thuận chia tài sản thừa kế như sau: ông H1 được nhận di sản thừa kế là diện tích đất 1.693 m², thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10; diện tích 2.116 m2 thuộc thửa 55, tờ bản đồ 10; diện tích đất 1.889 m² thuộc thửa 54 tờ bản đồ 10 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai và ông L2 được sử dụng diện tích đất 850 m² đất thuộc thửa 68, tờ bản đồ 10 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Văn bản phân chia di sản được UBND xã X chứng thực ngày 27/12/2007.

Ngày 04/08/2010, ông L2 đại diện gia đình làm đơn xin tách thửa đất số 68, tờ bản đồ 10 và được UBND huyện ban hành Quyết định số 3046/QĐ-UBND ngày 23/11/2010 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dất cho ông H1 tại thửa đất số 68, tờ bản đồ 10, diện tích 1.993m² mục đích sử dụng 300m² đất ở tại nông thôn, 1.693m² đất trồng cây lâu năm có số vào số CH 00306 số phát hành BB 940155 và cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Nguyễn Phi L2 tại thửa đất số 301, tờ bản đồ số 10, diện tích 850m² mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm có số vào số CH 00303 số phát hành BB 940156.

Tuy nhiên, trên thửa đất số 68, tờ bản đồ 10 của ông D lại có căn nhà tình thương có diện tích 45m² do UBND xã X cấp cho ông Nguyễn Văn C từ năm 2005 (bút lục 417). Ông C xác định ông được ông D cho phần đất trên vào ngày 20/12/2004 theo tờ giấy có nội dung ghi Đơn cha cho con đất mà bà X cung cấp bản phô tô (bản chính đã bị thất lạc) (bút lục 66), trong đơn ông D ghi xác nhận cho ông C một miếng đất để cất nhà tình thương có chiều ngang 13,3m, chiều dài 32m (diện tích 425,6m²), còn phần đất còn lại là của ông D. Cùng thời điểm đó, ông D và ông C có làm hợp đồng đo vẽ, tách thửa đất mà ông D cho ông C (bút lục 663, 664, 665, 667) việc đo vẽ tách thửa có ghi ông Nguyễn Văn D chuyển quyền cho Nguyễn Văn C có xác nhận của UBND xã, bản trích đo bản đồ địa chính khu đất đối với diện tích 426,0m² trích đo vẽ từ thửa đất 68, tờ bản đồ số 10 xã X.

Tại biên bản lấy lời khai ông H1 tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ ngày 17/9/2011 với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ly hôn của ông C bà B, ông H1 có khai « tôi thừa nhận trước đây toàn bộ diện tích đất mà tôi đứng tên hiện nay là của cha mẹ tôi. Lúc đó do hoàn cảnh vợ chồng ông C khó khăn và UBND xã X có dự định xây dựng cho ông C 01 căn nhà tình thương để ở, ổn định cuộc sống mà yêu cầu ông C phải có đất để làm nhà, vì vậy cha tôi (là ông Nguyễn Văn D) có viết giấy xác nhận cho ông C khoảng 400m² đất để ông C được cấp nhà tình thương...cha tôi vẫn hỏi ý kiến tôi và sau khi tôi đồng ý thì cha tôi mới ký giấy cho ông C phần diện tích đất đó để làm nhà tình thương» (BL 107). Ngoài ra tại thời điểm ly hôn bà B khẳng định «khi vợ chồng bà đến hỏi xin đất cha mẹ chồng thì cha chồng còn nói là xã còn cho được nhà tình thương mà không lẽ tôi là cha chúng nó không cho được mười mấy mét đất làm nhà hay sao », lúc đó có sự chứng kiến của ông Nguyễn Tăng N1 trưởng ấp. Ông C cũng khẳng định ông đã tiến hành thủ tục đo đạc để tách thửa, đã có bản vẽ nhưng sau đó do mâu thuẫn trong gia đình có tranh chấp với nhau, giữa tôi với gia đình bên vợ (bà B) nên ông ngưng lại.

Như vậy, từ năm 2011 khi chưa xảy ra vụ án này, ông H1 cũng đã thừa nhận ông biết việc ông D cho đất và có viết giấy cho đất ông C và hồ sơ đo vẽ tách thửa ông D ký chuyển quyền cho ông C trước khi ông D mất, lời khai bà B (vợ trước ông C) cũng thừa nhận ông D cho vợ chồng ông C bà B đất, phù hợp lời khai của ông C về việc đi đăng ký kê khai tách thửa. Do đó, có đủ cơ sở xác định thời điểm năm 2004 ông C được ông D cho một phần đất của thửa đất 68, tờ bản đồ số 10, trên cơ sở đó UBND xã mới xây nhà tình thương cho ông C.

Bên cạnh đó, văn bản phân chia tài sản thừa kế chỉ ghi nhận cho ông H1 diện tích đất 1.693 m², ông L2 được sử dụng diện tích đất 850 m², trong khi đó thửa đất 68 có diện tích 2.843m² chứng minh gia đình thống nhất chỉ chia cho ông H1 và ông L2 tổng cộng 2.543m², còn lại khoảng 300m² văn bản không nhắc đến nghĩa là phần đó là phần đất mà ông D đã cho ông C từ trước đó rồi nên không tính đến trong phần chia di sản còn lại nữa.

Đồng thời, tại biên bản xác minh hiện trạng thửa đất số 68A, tờ bản đồ số 10 do UBND xã X lập ngày 02/3/2015 (BL65) có ý kiến của bà P1 thể hiện ông D và bà có cho ông C đất để xây dựng nhà tình thương..., tại biên bản này cũng có ý kiến ông L2 là «Trước đây cha mẹ tôi có cho đất có mặt anh em là chỉ cho ông C từ đất ranh nhà tôi kéo xuống là 11,1m...không tính chiều dài...». Tại biên bản hòa giải lập ngày 15/5/2015 tại UBND xã X khi ông H1 và ông C tranh chấp phần đất trên, ông H1 có ý kiến là «Trước khi cho ông C đất, mẹ tôi là bà Lê Thị P1 là người chỉ ranh đất và cho, hiện tại mẹ tôi vẫn còn minh mẫn và cũng là người đứng ra chỉ để xác định lại ranh, trước đây là do ông C lập, ba tôi ký chữ ký cha mẹ và các anh chị em trong nhà không biết diện tích là bao nhiêu ». (bút lục 65, 67-68).

Như vậy, phần đất trên đã có tranh chấp từ năm 2015, phía UBND xã X được Tòa án yêu cầu cung cấp hồ sơ giải quyết tranh chấp đất năm 2015 nhưng có văn bản trả lời hồ sơ đã bị thất lạc không có để cung cấp (BL 419). Ngoài ra, UBND huyện C tách thửa số 68, tờ bản đồ 10 theo yêu cầu của ông H1 và ông L2 căn cứ vào văn bản phân chia tài sản thừa kế nhưng lại cấp giấy CNQSDĐ cho ông H1 1.993m² trong đó có 300m² đất ở nông thôn, 1.693m² đất trồng cây lâu năm không đúng với diện tích mà ông H1 được chia theo văn bản chia di sản thừa kế ngày 27/12/2007 cũng không được UBND huyện C trả lời đúng vào nội dung mà Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu (BL 824-827). Nên không thể căn cứ vào hồ sơ yêu cầu tách thửa của ông H1 và ông L2 để xác định việc UBND huyện C cấp cho ông H1 toàn bộ diện tích 1.993m² thuộc thửa đất số 68, tờ bản đồ 10, xã X là theo văn bản phân chia di sản cho ông H1 luôn phần đất đang có ngôi nhà tình thương của ông C. Vụ việc tranh chấp đất từ năm 2015 chưa được giải quyết dứt điểm. Năm 2018 ông H1 lại bán hết phần đất được nhận di sản thừa kế bao gồm cả phần đất tranh chấp cho ông S là không đảm bảo quy định pháp luật.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hoàng Thị X là chưa xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên đã đưa ra phán quyết xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn C và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn S trình bày ông sẽ yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hoàng Thị X, hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng của ông do vô hiệu. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, cấp sơ thẩm không có giải thích cho các đương sự biết trong trường hợp tuyên hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên hợp đồng vô hiệu thì các đương sự có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hay không là thiếu sót theo quy định tại mục 2 phần III giải đáp số 01/2017/GĐ – TATC ngày 07/4/2017.

Đối với phần diện tích khoảng 424,6m² các bên đang tranh chấp là đất trồng cây lâu năm, trong khi phần nhà tình thương xây trên đất chỉ có diện tích 45m². Như vậy, trường hợp nếu chấp nhận kháng cáo của bà X thì đối với phần diện tích đất được hủy một phần của hợp đồng chuyển nhượng đất sẽ không rõ có đủ điều kiện tách thửa theo quy định pháp luật hay không, sẽ gây khó khăn cho việc thi hành trên thực tế.

Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bà X và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được Tòa cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết lại theo quy định pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bà X không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 11/QĐKNPT-VKS-DS ngày 19/6/2024 của Viện trưởng VKSND huyện Cẩm Mỹ và kháng cáo của bà Hoàng Thị X.

  1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Tòa cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết lại theo quy định pháp luật.
  3. Về án phí phúc thẩm: Bà X không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả cho bà X 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 12264 ngày 19/6/2024.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Cẩm Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 228/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Sơn đòi ông Chuẩn, bà Xuân trả lại đất; bà Xuân yêu cầu hủy hđcn ông Sơn - ông Hết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger