|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 228/2025/HS-PT Ngày: 09/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Văn Yên |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Trí Tuấn |
| Ông Nguyễn Văn Minh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 987/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 do có kháng kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Bị cáo có kháng cáo:
Trương Thị Kiều O, sinh ngày 25-7-1980; Nơi sinh: Huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm Tóc; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn C, sinh năm 1959 và bà Lê Thị T, sinh năm 1960; Chồng tên Huỳnh Văn N, sinh năm 1976 và 01 người con, sinh năm 2007; Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1993. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt từ ngày 24-7-2023 cho đến nay (bị cáo có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo (do tòa án chỉ định): Ông Võ Bá Đ – luật sư của Văn phòng luật sư Đường Vân T1; Số A ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
- Bị hại có kháng cáo:
- Bà Võ Huỳnh M, sinh năm 1966. Nơi cư trú: ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bà Phan Thị Thanh H, sinh năm 1964. Nơi cư trú: ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bà Phạm Thị Bích L, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bà Nguyễn Kim L1; sinh năm: 1980. Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bà Trương Thị Bích L2; sinh năm 1970. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bà Lê Thị T2; sinh năm 1984. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
- Ông Lý Ngọc T3, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- 10. Bà Ngô Thị T4, sinh năm 1956. Nơi cư trú: ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà T4: Ông Bùi Công V, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1976; Nơi cư trú: ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2018 đến năm 2020 bị cáo Trương Thị Kiều O (sinh năm: 1980; Nơi thường trú: ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng) và chồng là ông Huỳnh Văn N (Sinh năm: 1976; ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng) thuê đất trồng lúa, qua nhiều lần canh tác đều thua lỗ, thiếu nợ số tiền khoảng 150.000.000 đồng. Để có tiền trả nợ bị cáo bắt đầu vay tiền của những người thân quen với số tiền mỗi người khoảng 50.000.000 đồng, bù vào khoản làm ăn thua lỗ, càng về sau số tiền vay và tiền lãi càng tăng. Để có tiền trả lãi và gốc, bị cáo nghĩ ra cách, đưa ra thông tin gian dối để vay tiền của nhiều bị hại, nhiều bị hại tin tưởng vào thông
tin gian dối do bị cáo đưa ra mà cho bị cáo vay tiền, từ đó bị cáo chiếm đoạt tiền của các bị hại.
Những thông tin gian dối mà bị cáo đưa ra để vay tiền như: Bị cáo có quen cán bộ làm ở quỹ tín dụng của nhiều ngân hàng, có nhiều người cần vay tiền để trả nợ, vay đáo hạn ngân hàng, nếu cho vay sẽ có lãi suất cao hoặc bị can lấy tên người làm ăn có uy tín trên địa bàn có hồ sơ cần đáo hạn Ngân hàng (vay tiền để đáo hạn ngân hàng) hoặc bị cáo vay tiền mua xe cẩu hoặc bị cáo vay tiền cho mẹ chữa bệnh hiểm nghèo làm các bị hại tin tưởng thông tin gian dối mà bị cáo đưa ra để cho bị cáo vay tiền, từ đó bị cáo chiếm đoạt tiền của các bị hại.
Để tạo lòng tin cho các bị hại, bắt đầu bị cáo vay số tiền không nhiều, đúng hẹn trả nợ tiền gốc, tiền lãi đúng theo thỏa thuận (có hồ sơ đáo hạn ngân hàng). Sau khi đã tạo được lòng tin của bị hại, bị cáo đưa thông tin gian dối và vay số tiền nhiều hơn, bị cáo chiếm đoạt số tiền nhiều hơn, đến ngày 8/12/2022 bị cáo không còn khả trả nợ và bỏ trốn.
Ngày 31/12/2022 bà Phan Thị Thanh H, bà Võ Huỳnh M, bà Phạm Thị Bích L và nhiều bị hại khác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh S tố giác ông Huỳnh Văn N và bị cáo Trương Thị Kiều O có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản (tiền) của các bị hại.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chứng minh được: Việc bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của 13 bị hại, với số tiền: 23.642.000.000 đồng. Hành vi cụ thể như sau:
1. Đối với bị hại Phan Thị Thanh H, sinh năm 1976, ngụ ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Tháng 4 năm 2021 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc có đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay tiền bà H, với số tiền 200.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 500.000 đồng/ngày. Sau đó bị cáo tiếp tục nhiều lần kêu bà H đưa tiền để đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng, mỗi lần đáo hạn hồ vay tiền ngân hàng từ 03 đến 05 ngày thì bị cáo đưa tiền lại cho bà H kiểm tra đồng thời trả tiền lãi và tính lại 01 lần vay mới. Đến cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã 05 lần vay tiền của bà H và chiếm đoạt tiền của bà H. Cụ thể:
- Ngày 30/11/2022 vay số tiền 700.000.000 đồng.
- Ngày 02/12/2022 vay số tiền 700.000.000 đồng.
- Ngày 02/12/2022 vay số tiền 700.000.000 đồng.
- Ngày 06/12/2022 vay số tiền 700.000.000 đồng.
- Ngày 08/12/2022 vay số tiền 1.000.000.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo còn đưa ra thông tin gian dối về việc vay tiền của bà H để mua xe ô tô cẩu và để chữa bệnh cho mẹ để chiếm đoạt của bà H số tiền 500.000.000 đồng. Cụ thể:
- Ngày 28/9/2022, vay số tiền 100.000. 000 đồng để mua xe cẩu
- Ngày 22/11/2022, vay số tiền 100.000.000 đồng để mua xe cẩu
- Ngày 01/12/2022, vay số tiền 200.000.000 đồng để mua xe cẩu
- Ngày 04/12/2022, vay số tiền 100.000.000 đồng để chữa bệnh cho mẹ.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của bà H, số tiền 4.300.000.000 đồng.
2. Đối với bị hại Phạm Thị Bích L, sinh năm 1985, ngụ đường C, ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Tháng 5 năm 2022 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc có đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay tiền của bà L, với số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 300.000 đồng/ngày. Sau đó bị cáo tiếp tục nhiều lần vay tiền của bà L để đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng, mỗi lần vay tiền từ 01 đến 04 ngày thì bị cáo đưa tiền cho bà L kiểm tra đồng thời trả tiền lãi và tính lại 01 lần vay. Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã nhiều lần vay tiền của bà L và chiếm đoạt tiền của bà L. Cụ thể:
- Tháng 9/2022 vay nhiều lần với số tiền 2.200.000.000 đồng
- Ngày 22/11/2022 vay số tiền 1.500.000.000 đồng.
- Ngày 25/11/2022 vay số tiền 600.000.000 đồng.
- Ngày 26/11/2022 vay số tiền 810.000.000 đồng.
- Ngày 29/11/2022 vay số tiền 750.000.000 đồng.
- Ngày 01/12/2022 vay số tiền 800.000.000 đồng.
- Ngày 03/12/2022 vay số tiền 250.000.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 26/9/2022, bị cáo còn đưa ra thông tin gian dối về việc vay tiền của bà L để mua xe cẩu và chữa bệnh cho mẹ, chiếm đoạt của bà L số tiền 137.000.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của bà L số tiền là 7.047.000.000 đồng.
3. Đối với bị hại Võ Huỳnh M, sinh năm 1966, ngụ đường C, ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Tháng 2 năm 2022 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc có đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay bà M số tiền 200.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 300.000 đồng/ngày. Sau đó bị cáo tiếp tục nhiều lần vay tiền bà M, mỗi lần vay tiền khoảng 04 ngày thì bị cáo đưa tiền cho bà M kiểm tra đồng thời trả tiền lãi và tính lại 01 lần vay tiền mới. Đến đầu tháng 12 năm
2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã 05 lần vay tiền của bà M và chiếm đoạt tiền của bà M. Cụ thể,
- Ngày 03/12/2022 vay số tiền 600.000.000 đồng.
- Ngày 07/12/2022 vay số tiền 500.000.000 đồng.
- Ngày 07/12/2022 vay số tiền 700.000.000 đồng.
- Ngày 07/12/2022 vay số tiền 600.000.000 đồng.
- Ngày 07/12/2022 vay số tiền 400.000.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 08/12/2022 bị cáo còn đưa ra thông tin gian dối về việc vay tiền của bà M để chữa bệnh cho mẹ, chiếm đoạt của bà M, với số tiền 50.000.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của bà M số tiền là 2.850.000.000 đồng.
4. Đối với bị hại Nguyễn Kim L1, sinh năm 1980, ngụ ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Tháng 4 năm 2022 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc có đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay của bà L1 số tiền 200.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng/tuần. Sau đó bị cáo tiếp tục nhiều lần vay tiền bà L1, mỗi lần vay tiền khoảng 07 ngày, bị cáo trả tiền lãi một lần và tính lại 01 lần vay tiền mới. Ngày 02/12/2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã chiếm đoạt của bà L1, số tiền 850.000.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của bà L1 số tiền là 850.000.000 đồng.
5. Đối với bị hại Đỗ Thị T5, sinh năm 1968, ngụ tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Đầu tháng 11 năm 2022 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay bà T5 số tiền 600.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 400.000.000 đồng/ngày, mỗi tháng tính 22 ngày. Với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã 02 lần vay tiền của bà T5 và chiếm đoạt tiền của bà T5. Cụ thể:
- Ngày 3/11/2022 vay nhiều lần thành số tiền 1.000.000.000 đồng.
- Ngày 18/11/2022 vay số tiền 200.000.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của bà T5 số tiền là 1.200.000.000 đồng.
6. Đối với bị hại Lý Ngọc T3, sinh năm 1970, ngụ ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Tháng 5 năm 2022 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay ông T3 số tiền 100.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng/ngày. Sau đó bị cáo tiếp tục nhiều lần vay tiền ông T3, mỗi lần vay tiền khoảng 04 ngày thì bị cáo lại đưa tiền cho ông
T3 kiểm tra, đồng thời trả tiền lãi và tính lại 01 lần vay tiền mới. Đến tháng 11 năm 2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã 02 lần vay tiền của ông T3 và chiếm đoạt tiền của ông T3. Cụ thể,
- Tháng 11/2022 vay số tiền 400.000.000 đồng.
- Ngày 26/11/2022 vay số tiền 450.000.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của ông T3 số tiền là 850.000.000 đồng.
7. Đối với bị hại Đào Thị Cẩm L3, sinh năm 1963 ngụ ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Đầu tháng 10 năm 2022 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ vay tiền ngân hàng để vay bà L3 số tiền 100.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 200.000 đồng/ngày, mỗi lần vay tiền khoảng 05 ngày thì trả tiền lãi và tiền gốc một lần. Với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã nhiều lần vay tiền của bà L3 để chiếm đoạt. Cụ thể,
- Lần 1: Tháng 10/2022 bị cáo vay bà L3 số tiền 100.000.000 đồng, sau năm ngày bị cáo đủ tiền gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi 1.000.000 đồng.
- Lần 2: sau lần 1 khoảng năm ngày, bị cáo vay của bà L3 số tiền 150.000.000 đồng, 10 ngày sau bị cáo đã trả đủ tiền gốc 150.000.000 đồng và tiền lãi 3.000.000 đồng.
- Lần 3: sau lần 2 khoảng năm ngày, bị cáo vay bà L3 số tiền 200.000.000 đồng, 03 ngày sau bị cáo đưa tiền lãi 600.000 đồng nhưng không trả tiền gốc.
- Lần 4: sau lần 3 một ngày bị cáo vay bà L3 số tiền 200.000.000 đồng, 05 ngày bị cáo đã trả đủ tiền gốc và đưa tiền lãi 4.000.000 đồng.
- Lần 5: Ngày 18/11/2022, bị cáo còn nợ của bà L3 số tiền 200.000.000 đồng, bị cáo đưa cho bà L3 1.200.000 đồng tiền lãi và tiếp tục vay thêm số tiền 80.000.000 đồng và chiếm đoạt của bà L3.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt bà L3 số tiền 280.000.000 đồng.
8. Đối với bị hại Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1971, ngụ ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Đầu tháng 10 năm 2022 bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay bà Đ1 số tiền 200.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 500.000 đồng/ngày, mỗi lần vay tiền khoảng 05 ngày thì trả tiền lãi và tính lại lần vay mới. Đến tháng 11 năm 2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã vay của bà Đ1 số tiền 200.000.000 đồng và chiếm đoạt số tiền trên.
9. Đối với bị hại Ngô Thị T4, sinh năm 1956, ngụ ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Ngày 07 tháng 4 năm 2022 bị cáo đưa thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay của bà T4 số tiền 300.000.000 đồng, với lãi suất thỏa thuận 100.000.000 đồng, tiền lãi 400.000 đồng/ngày, khoảng 07 ngày thì trả tiền lãi 01 lần và tính lại lần vay mới. Sau khi trả tiền lãi được nhiều lần thì bị cáo không trả tiền gốc và chiếm đoạt số tiền trên.
10. Đối với bị hại Võ Thị Út N1, sinh năm 1990, ngụ ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Đầu tháng 9 năm 2022 bị cáo đưa ra thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay của bà Võ Thị Út N1 số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 100.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng/ngày. Sau khi vay của bà N1 nhiều lần. Đến tháng 12 năm 2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã 02 lần vay tiền của bà N1 và chiếm đoạt số tiền vay của bà N1. Cụ thể:
- Ngày 02/12/2022 vay số tiền 250.000.000 đồng
- Ngày 05/12/2022 vay số tiền 60.000.000 đồng
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của bà N1, số tiền là 310.000.000 đồng.
11. Đối với bị hại Lê Thị T2, sinh năm 1984, ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Tháng 9 năm 2022 bị cáo đưa thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay bà T2 số tiền 300.000.000 đồng, với lãi suất thỏa thuận 100.000.000 đồng, tiền lãi 200.000 đồng/ngày, mỗi lần vay tiền khoảng 05 ngày thì trả tiền lãi một lần. Sau đó, bị cáo tiếp tục nhiều lần vay tiền bà T2. Đến tháng 11 năm 2022, với việc đưa ra thông tin gian dối như trên, bị cáo đã 08 lần vay tiền của bà T2 và chiếm đoạt tiền của bà T2. Cụ thể,
- Ngày 05/11/2022 vay nhiều lần, thành số tiền 800.000.000 đồng.
- Ngày 06/11/2022 vay số tiền 300.000.000 đồng.
- Ngày 11/11/2022 vay số tiền 500.000.000 đồng.
- Ngày 29/11/2022 vay số tiền 1.000.000.000 đồng.
- Ngày 05/12/2022 vay số tiền 300.000.000 đồng.
- Ngày 06/12/2022 vay số tiền 200.000.000 đồng.
- Ngày 06/12/2022 vay số tiền 100.000.000 đồng.
- Ngày 09/12/2022 vay số tiền 95.000.000 đồng.
Tổng cộng bị cáo chiếm đoạt của bà T2, số tiền 3.295.000.000 đồng.
12. Đối với bị hại Trương Thị Bích L2, ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Tháng 4 năm 2022, bị cáo bắt đầu đưa thông tin gian dối về việc đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay bà L2 số tiền 600.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 300.000 đồng/ngày, mỗi lần vay tiền khoảng 05 ngày trả tiền lãi một lần. Sau đó bị cáo tiếp tục nhiều lần vay tiền của bà L2 và chiếm đoạt số tiền vay của bà L2. Cụ thể:
- Ngày 15/4/2022 vay số tiền 600.00.000 đồng.
- Ngày 01/10/2022 vay số tiền 1.300.000 đồng.
- Ngày 25/11/2022 vay số tiền 500.00.000 đồng.
Tổng cộng, đến ngày 05/12/2022, bị cáo đã trả được tiền gốc là 150.00.000 đồng, bị cáo chiếm đoạt của bà L2 số tiền 2.250.000 đồng.
13. Đối với bị hại Phạm Thị T6, sinh năm 1983, ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
Tháng 11 năm 2022 bị cáo đưa thông tin gian dối đáo hạn hồ sơ vay tiền ngân hàng để vay bà Phạm Thị T6 số tiền 100.000.000 đồng, với lãi suất 100.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng/ngày. Sau đó bà T6 không thu tiền lãi, đến cuối tháng 11/2022 bị cáo đã trả tiền gốc cho bà T6 được 30.000.000 đồng và chiếm đoạt số tiền còn lại là 70.000.000 đồng.
Như vậy, bị cáo đưa thông tin gian dối và chiếm đoạt của các bị hại với tổng số tiền là 23.642.000.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HSST ngày 12-9-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị Kiều O phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[2] Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Trương Thị Kiều O 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 24/7/2023.
[3] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
[3.1] Buộc bị cáo Trương Thị Kiều O và ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm liên đới trả cho các bị hại tổng số tiền 24.923.560.000 đồng (hai mươi bốn tỷ chín trăm hai mươi ba triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng), cụ thể:
- Bị hại Phan Thị Thanh H số tiền là 4.300.000.000 đồng (bốn tỷ ba trăm triệu đồng);
- Bị hại Phạm Thị Bích L số tiền là 7.047.000.000 đồng (bảy tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu đồng);
- Bị hại Võ Huỳnh M số tiền là 2.950.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng)
- Bị hại Nguyễn Kim L1 số tiền là 894.000.000 đồng (tám trăm chín mươi bốn triệu đồng)
- Bị hại Trương Thị Bích L2 số tiền là 2.627.800.000 đồng (hai tỷ sáu trăm hai mươi bảy triệu tám trăm ngàn đồng) ;
- Bị hại Lê Thị T2 số tiền là 3.295.000.000 đồng (ba tỷ hai trăm chín mươi lăm triệu đồng);
- Bị hại Đỗ Thị T5 số tiền 1.550.000.000 đồng (một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng);
- Bị hại Lý Ngọc T3 số tiền là 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng);
- Bị hại Võ Thị Út N1 số tiền là 499.760.000 đồng (bốn trăm chín mươi chín triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng);
- 10/ Bị hại Ngô Thị T4 số tiền là 360.000.000 (ba trăm sáu mươi triệu đồng);
- 11/ Bị hại Nguyễn Thị Đ1 số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng);
- 12/ Bị hại Đào Thị Cẩm L3 số tiền là 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng);
- 13/ Bị hại Phạm Thị T6 số tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng);
[4] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25-9-2024, bị cáo Trương Thị Kiều O có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 20-9-2024, các bị hại Phạm Thị Bích L, Nguyễn Kim L1, Trương Thị Bích L2, Lê Thị T2, Ngô Thị T4, Lý Ngọc T3, Võ Huỳnh M, Phan Thị Thanh H có đơn kháng
cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra, xét xử lại theo trình tự thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trương Thị Kiều O vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Các bị hại Phạm Thị Bích L, Nguyễn Kim L1, Trương Thị Bích L2, Lê Thị T2, Ngô Thị T4, Lý Ngọc T3, Võ Huỳnh M, Phan Thị Thanh H vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo và trình bày tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền mà bị cáo chiếm đoạt đã sử dụng vào mục đích gì, số tiền còn lại ai là người giữ và yêu cầu làm rõ vai trò đồng phạm của ông Huỳnh Văn N là chồng của bị cáo O.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, các bị hại và giữ nguyên bán án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo, các bị hại trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Bị cáo Trương Thị Kiều O bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Các bị hại: Phạm Thị Bích L, Nguyễn Kim L1, Lê Thị T2, Trương Thị Bích L2, Ngô Thị T4, Lý Ngọc T3, Võ Huỳnh M, Phan Thị Thanh H kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì bỏ lọt vai trò đồng phạm của chồng bị cáo O ông Huỳnh Văn N.
[1] Nội dung vụ án: Tại phiên Tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm được tóm tắt nêu trên.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử: Khoảng năm 2021 đến tháng 12 năm 2022 bị cáo Trương Thị Kiều O nảy sinh ý định đã đưa ra những thông tin gian dối để vay tiền của 13 bị hại như: Bị cáo có quen cán bộ làm ở quỹ tín dụng của nhiều ngân hàng, có nhiều người cần vay tiền để trả nợ, vay đáo hạn ngân hàng, nếu cho vay sẽ có lãi suất cao hoặc bị cáo lấy tên người làm ăn có uy tín trên địa bàn có hồ sơ cần đáo hạn ngân hàng hoặc bị cáo vay tiền mua xe cẩu hoặc bị cáo vay tiền cho mẹ chữa bệnh hiểm nghèo làm các bị hại tin tưởng thông tin gian dối mà bị cáo đưa ra để cho bị cáo vay tiền nhưng thực chất là các thông tin bị cáo đưa ra để vay tiền là không có thật, bị cáo tự suy nghĩ ra, từ đó bị cáo chiếm đoạt số tiền
của các bị hại. Để tạo lòng tin cho các bị hại, bắt đầu bị cáo vay số tiền không nhiều, đúng hẹn trả nợ tiền gốc, tiền lãi đúng theo thỏa thuận. Sau khi đã tạo được lòng tin của bị hại, bị cáo đưa thông tin gian dối và vay số tiền nhiều hơn, bị cáo chiếm đoạt số tiền nhiều hơn, đến ngày 08/12/2022 bị cáo không còn khả năng trả nợ và bỏ trốn. Hành vi gian dối của bị cáo thực hiện trước khi bị cáo lấy tiền của các bị hại, bị cáo lợi dụng lòng tin của các bị hại, bị cáo đưa ra thông tin không đúng sự thật để bị cáo chiếm đoạt của 13 người bị hại với tổng số tiền 23.642.000.000 đồng, số tiền này bị cáo chi xài cá nhân và mua các tài sản, chi xài trong gia đình. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người đúng tội.
Xét về phần lượng hình: Hành vi của bị cáo Trương Thị Kiều O là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự xã hội và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cấp sơ thẩm cũng đã cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Đã khắc phục hậu quả với số tiền 10.000.000 đồng, các bị hại Trương Thị Bích L2, Đỗ Thị T5 xin giảm nhẹ cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo O 20 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[3] Xét kháng cáo của các bị hại về việc các bị hại cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm bỏ lọt người phạm tội ông Huỳnh Văn N thì thấy:
Căn cứ biên bản đối chất giữa ông Huỳnh Văn N và bà Võ Huỳnh M ngày 09/8/3024 thể hiện: đối với phần vay nợ của bà M thì ông N không biết trước, đến khi sự việc vay rồi bà M mới buộc ông N ký tên vào biên nhận.
Căn cứ biên bản đối chất giữa ông Huỳnh Văn N với bà Nguyễn Kim L1, bà Phan Thị Thanh H và ông Lý Ngọc T3 cùng ngày 09/8/3024, thể hiện: Ông N không biết việc bà O nói dối các bị hại cho bà O (bị cáo) vay để đáo hạn ngân hàng đến khi các bị hại cho bị cáo O vay xong, bị cáo O bỏ trốn các bị hại mới báo cho ông N biết việc vay tiền.
Như vậy, ông Huỳnh Văn N chỉ biết bị cáo O vay tiền của nhiều người sau khi bị cáo bỏ trốn và có nhiều người đến nhà bị cáo O đòi nợ thì ông N mới biết. Ông N không có giúp sức cho bị cáo O vay tiền của các bị hại và chiếm đoạt tiền của bị hại nên ông N không phải là đồng phạm với bị cáo O trong vay trò giúp sức mà chỉ liên đới dân sự bồi thường cho các bị hại theo quy định tại Điều 27 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị hại.
[4] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5]. Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm. Các bị hại không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Kiều O;
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị hại: Phạm Thị Bích L, Nguyễn Kim L1, Lê Thị T2, Trương Thị Bích L2, Ngô Thị T4, Lý Ngọc T3, Võ Huỳnh M, Phan Thị Thanh H.
1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Tuyên bố các bị cáo Trương Thị Kiều O phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ Luật hình sự 2015
Xử phạt bị cáo Trương Thị Kiều O 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Thị Kiều O để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về án phí hình sự: Bị cáo Trương Thị Kiều O phải chịu 200.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Văn Yên |
|
Các thẩm phán |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Phạm Trí Tuấn |
Nguyễn Văn Minh |
Phan Văn Yên |
Bản án số 228/2025/HS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 228/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Kiều O; - Không chấp nhận kháng cáo của các bị hại: Phạm Thị Bích L, Nguyễn Kim L1, Lê Thị T2, Trương Thị Bích L2, Ngô Thị T4, Lý Ngọc T3, Võ Huỳnh M, Phan Thị Thanh H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
