|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 228/2024/HS - PT Ngày: 12 - 12 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký
Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm H
- Kiểm sát viên.
Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLPT-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo La Văn N, do có kháng cáo của bị cáo La Văn N và kháng cáo của chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp của bị hại, đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: La Văn N, sinh năm 1973; Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Giới tính: Nam; Dân tộc: Sán dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ1 ( Đã bị thi hành kỷ luật bằng hình thức: Khai trừ; theo Quyết định số 146-QĐ/UBKT ngày 04/4/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy L3).
Con ông La Văn B (đã chết);
Con bà Nguyễn Thị Đ (đã chết);
Có vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978;
Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2004;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Cháu Vũ Văn Thành L1, sinh ngày 15/6/2007 ( Có mặt).
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 ( Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị L, anh Vũ Văn N1:
Anh Thân Quang H2, sinh năm 1983 ( Có mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Vũ Văn Thành L1:
Bà Giáp Thị V - Luật sư, Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).
Địa chỉ: Tầng A, số D đường X, phường N, thành phố B.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Văn N1, sinh năm 1983 ( Vắng mặt).
- Anh Ma Văn M, sinh năm 1988 ( Vắng mặt).
- Anh Hồ Khánh D, sinh năm 1995 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Anh Giáp Văn Y, sinh năm 2000 ( Vắng mặt).
- Anh Tống Đức L2, sinh năm 1976 ( Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Khu tập thể nhà máy I, đường P, thị trấn V, quận T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
La Văn N, sinh năm 1973, trú quán: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông tỉnh B cấp ngày 10/11/2012. Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 27/9/2023, N điều khiển xe ô tô, nhãn hiệu Huyndai, loại Getz, biển kiểm soát 98A-029.16 đi trên đường T theo hướng thị trấn C đi xã N, huyện L, đi cùng trên xe có anh Tống Đức L2, sinh năm 1981, trú tại đường P, thị trấn V, quận T, thành phố Hà Nội ngồi bên ghế phụ. Khi N điều khiển xe ô tô đi đến Km03+280 thuộc địa phận thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, cách đường rẽ vào chùa A1 khoảng 50 mét, N quan sát thấy ở phía sau có một số xe mô tô và xe đạp điện đi cùng chiều, N bật đèn xi nhan trái để xin chuyển hướng rẽ sang trái để vào đường đi chùa A1. Sau đó N giảm tốc độ và chuyển hướng xe ô tô sang trái để rẽ vào đường đi chùa A1. Khi xe ô tô do N điều khiển đang rẽ trái thì lúc này có xe mô tô nhãn hiệu VIETTHAI màu đen, biển kiểm soát 98AD-008.89 do cháu Vũ Văn Thành L1, sinh ngày 15/6/2007, trú tại: thôn B, xã N, huyện L điều khiển hướng thị trấn C đi xã N, đi với tốc độ khoảng 60-76km/h và đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi, đã va vào cánh cửa xe phía trước, bên trái của xe ô tô do N điều khiển rồi xe mô tô rê trượt lên đến phần gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô khiến xe mô tô và cháu L1 bị hất văng vào cột điện bên trái đường và dừng lại. Hậu quả cháu L1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2 sau đó được chuyển đến Bệnh viện H5. Đến ngày 25/10/2023 cháu L1 được chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh B để điều trị đến nay,hai phương tiện bị hư hỏng.
Cùng ngày 27/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn ngã ba đường tỉnh 289 và đường đi chùa A1. Điểm rộng nhất của ngã ba là 15m chiều rộng lòng đường là 08m. Bề mặt đường phẳng, được trải nhựa áp phan; đường tỉnh lộ 289 có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng chia lòng đường làm hai phần. Tại hiện trường có các dấu vết sau: (1) Dấu vết mài trượt mặt đường; (2) Dấu vết cày xước; (3) xe mô tô biển số 98AD-008.89; (4) Dấu vết máu; (5) Dấu vết lông tóc; (6,7) Dấu vết máu; (8) Mảnh nhựa vỡ và xe ô tô biển số 98A-029.16. Lấy cột điện tín hiệu BGG 0667/DN01-SN06 làm mốc chuẩn. Lấy mép đường phải chiều đường T đi thị trấn C làm chuẩn. Tại vị trí kí hiệu số (1) là dấu vết trượt trên mặt đường chiều hướng vết thị trấn C đi T Kích thước vết là (170x06)cm đầu vết cách mép chuẩn 160cm cách tâm trục trước trái xe ô tô là 120cm. Cuối vết số 1 nằm trên mép chuẩn. Tại vị trí kí hiệu số (2) là vết cầy xước mặt đường dạng đứt đoạn kích thước trên diện (680x06)cm chiều hướng thị trấn C đi T Đầu vết cách mép chuẩn 15cm, cách trục trước bên trái xe ô tô là 110cm. Cuối vết cách mép chuẩn 235cm, cách mốc 460cm. Tại vị trí số (3) là xe mô tô biển số 98AD-008.89 trong trạng thái đổ nghiêng phải, đầu xe hướng thị trấn C. Trục trước xe cách mép chuẩn 200cm. cách mốc 200cm. Trục sau xe cách mép chuẩn 160cm. cách mốc 255cm. Tại vị trí số (4) là dấu vết máu bám dính trên cột điện lưới kí hiệu C03012 có kích thước (26x30)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất 95cm. điểm cao nhất cách mặt đất 123cm. Dấu vết cách vị trí mốc là 100cm. Tại vị trí số (5) là dấu vết lông tóc bám dính trên cột điện tín hiệu VIETEL 7AB69 kích thước trên diện(09x05)cm, vị trí tâm vết cách mặt đất 75cm. Vị trí số (5) cách mép chuẩn 320cm. Tại vị trí số (6) là dấu vết máu bám dính trên cây cỏ trên diện (30x25)cm tâm vết cách mép chuẩn 350cm, cách mốc 50cm. Tại vị trí số (7) là dấu vết máu bám dính trên cây cỏ kích thước trên diện (30x30)cm tâm vết cách mép chuẩn 430cm, cách mốc 150cm. Tại vị trí số (6) và số (7) thấy cây cỏ bị tác động nghiêng theo hướng thị trấn C đi T trên diện (170x80)cm. Điểm cuối khu vực cây cỏ bị tác động cách mép chuẩn 430cm, cách mốc 450cm. Điểm đầu khu vực cỏ bị tác động cách mép chuẩn 350cm. cách mốc 60cm. Tại vị trí kí hiệu số (8) là mảnh nhựa vỡ đèn của xe mô tô cách mép chuẩn 400cm, cách trục trước xe mô tô là 570cm. Xe ô tô biển số 98A-029.16 trong trạng thái đỗ, đầu xe hướng vào đường nhánh đi chùa A1. Trục trước bên trái xe cách mép chuẩn 65cm, cách mốc 1225cm. T trục sau bên trái cách mép chuẩn 180cm. T trục trước bên phải xe cách trục trước xe mô tô là 1095cm, cách mốc là 1235cm. Tạm giữ 01 xe ô tô biển số 98A-029.16; Tạm giữ 01 xe mô tô biển số 98AD-008.89; dấu vết lông tóc thu tại vị trí số (5) và thu mẫu máu tại vị trí số 6 và 7.
Ngày 27/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành đo nồng độ cồn, test ma túy đối với La Văn N. Kết quả: 0,000mg/1 khí thở, kết quả âm tính với ma túy. (BL 239-241).
Cùng ngày 27/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ của La Văn N gồm: 01 thẻ nhớ camera hành trình của xe ô tô biển kiểm soát 98A-029.16; 01 bản sao giấy chứng nhận kiểm định; 01 bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô để phục vụ công tác điều tra; Trích xuất, thu giữ hình ảnh camera ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông ngày 27/9/2023 tại camera an ninh của gia đình anh Giáp Văn H3 sinh năm 1977 và anh Trịnh Bá M1 sinh năm 1986, đều trú quán: thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, khi thu giữ được niêm phong theo quy định.
Ngày 14/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn.
+ Kết quả khám xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Getz màu xám biển kiểm soát 98A-029.16 có các dấu vết sau: Gương chiếu hậu bên trái bị gãy, phần sườn đầu xe phía trước bên lái có vết mài trượt từ sau ra trước kích thước (11x2)cm, rè chắn nước cánh cửa trước bên lái vỡ nhựa, bật rời kích thước kích thước (61x6)cm. Cánh cửa phía trước bên lái cong vênh, lõm vào trong kích thước (63x36)cm, phía trên cánh cửa phía trước bên lái bám dính chất màu nâu đen nghi cao su kích thước (12x0,5)cm và có nhiều vết mài trượt hướng từ sau ra trước kích thước (60x22)cm. Mép đuôi cửa xe phía trước bên lái có nhiều vết xước, bong tróc sơn từ sau ra trước kích thước (85x10)cm, phần dưới cánh cửa xe phía trước bên lái lõm từ ngoài vào trong bề mặt có bám dính chất màu đen ghi là cao su kích thước (50x0,5)cm. Mép dưới cánh cửa phía sau bên lái có vết trầy xước bong tróc sơn kích thước (93x6)cm, mép dưới cánh cửa xe phía sau bên trái bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (18x2)cm. La-zăng bánh trước bên lái có nhiều vết trầy xước kim loại bong tróc sơn. Mép dưới kính chắn gió cánh cửa xe phía trước, bên lái có vết xước đề can hướng từ sau ra trước kích thước (20x1)cm. Hệ thống điều khiển, hệ thống điện, còi lốp, gạt nước hoạt động bình thường, hỏng gương chiếu hậu bên lái.
+ Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu VIETHAI màu đen biển số 98AD-008.89 có các dấu vết sau: Mặt nạ xe vỡ theo chiều dọc, bật rời khỏi vị trí ban đầu kích thước (19x1)cm. Cụm đèn pha đèn xi nhan vỡ hoàn toàn, bật rời khỏi vị trí ban đầu. Hai gương chiếu hậu bị mất. Vỏ nhựa ốp đèn pha vỡ, bật rời khỏi vị trí ban đầu. Đầu tay phanh bên phải có vết mài trượt kim loại hướng từ dưới lên trên, kích thước (1x1)cm. Đầu tay nắm bên phải có vết mài trượt cao su kích thước (3x1)cm. Tại phần mặt nạ có bám dính chất màu xám nghi là sơn hướng từ trong ra ngoài kích thước (2x1)cm. Yếm bên trái vỡ nhựa hướng từ ngoài vào trong kích thước (10x0,5)cm. lườn xe có tác động xê dịch rời khỏi vị trí ban đầu. Cánh yếm bên phải mặt trong có nhiều vết mài trượt hướng từ trên xuống dưới kích thước (10x9)cm. Vị trí để chân trước bên phải lốc máy, giá bảo vệ lốc máy chân phanh, cần khởi động bám dính bùn đất. Mặt ngoài cánh yếm bên phải có nhiều vết trầy xước hướng từ ngoài vào trong kích thước (60x10)cm Tại phần tay cánh để chân phía sau bên phải bị vỡ hướng từ trên xuống dưới kích thước (5x2)cm. Chân phanh cong vênh từ dưới lên trên, từ trước về sau. Giá bảo vệ lốc máy bị gãy. Để chân phía trước bên phải cong vênh chiều từ trước về sau, mất đệm cao su. Ốp nhựa sườn xe bên phải có vết vỡ nhựa kích thước (8x1)cm. Ốp nhựa sườn xe bên trái có vết vỡ nhựa kích thước (10x2)cm. Cụm đèn hậu, đèn xi nhan sau bị vỡ mất hoàn toàn. Ốp chắn bùn bánh xe phía sau bị vỡ. Không kiểm tra kỹ thuật an toàn phương tiện.
Ngày 19/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết, vị trí va chạm, tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn. Tại bản kết luận giám định số 2249/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“1. Dầu vết hằn lõm, mài sát sơn, kim loại tại bên trái của xe ô tô biên kiểm soát 98A - 029.16, có chiều hướng từ sau ra trước gồm: mép dưới cánh trước và sau, khung kim loại phía dưới cánh cửa xe (ảnh số 11 đến số 15 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu xám (dạng sơn) tại đầu dưới giảm sóc trước bên phải, đầu ốc bên phải trục bánh trước của xe gắn máy biển kiểm soát 98AD - 008.89, có chiều hướng từ trước về sau (ảnh số 23, 24 bản ảnh khám phương tiện)
2. Dấu vết mài trượt mặt đường ký hiệu số 1 không thể hiện rõ đặc điểm, không xác định được do phương tiện nào để lại.
- Dấu vết cày xước mặt dường ký hiệu số 2 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe gắn máy biển kiểm soát 98AD - 008.89 đổ nghiêng phải, văng ra trên mặt đường tạo nên.
3. Vị trí va chạm giữa xe gắn máy biển kiểm soát 98AD - 008.89 với xe ô tô biển kiểm soát 98A 029.16 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 2, thuộc khu vực giao nhau giữa đường Tỉnh lộ 286 với đường đi chùa A1.
4. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra tai nạn, hai phương tiện cùng chiều nhau.
5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học. H4 lại đối tượng giám định: toàn bộ đối tượng gửi giám định.”.
Ngày 27/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định tốc độ của xe máy BKS 98AD-008.89 và xe ô tô biển kiểm soát 98A-029.16. Tại bản kết luận giám định số 7955/KLGĐTT-KTHS ngày 13/11/2023 của V1 Bộ C kết luận: “Vận tốc của xe máy BKS 98AD-008.89 theo mô tả trong Quyết định trưng cầu giám định thời điểm ngay trước khi xảy ra va chạm nằm trong khoảng từ 60km/h đến 76km/h. Vận tốc của xe ô tô biển kiểm soát 98A-029.16 theo mô tả trong Quyết định trưng cầu giám định thời điểm ngay trước khi xảy ra va chạm nằm trong khoảng từ 17 km/h đến 19km/h.”.
Ngày 05/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định trưng cầu giám định thương tích của Vũ Văn Thành L1. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1945/23/KLTTCT-TTPY ngày 12/12/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích vết sẹo vùng thái dương trái kích thước trung bình + Vết sẹo mổ vùng thái dương trái kích thước trung bình, khuyết sọ, đáy phập phồng + Vết sẹo mổ vùng thái dương phải kích thước trung bình, khuyết sọ, đáy chắc + CT sọ não ngày 27/9/2023: Hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng vùng trán đỉnh hai bên và dưới màng cứng vùng thái dương hai bên và trán phải dày 7mm. Chảy máu dưới nhện dọc liềm đại não, các rãnh cuộn não hai bên, bể quanh củ não sinh tư. Tụ máu sừng chẩm não thất bên trái, não thất bốn. Nhu mô thùy trán hai bên có tụ máu nhỏ, ổ lớn kích thước 4x7mm, có viền phù não xung quanh. Vỡ xương đỉnh lệch trái đường vỡ lan vòa khớp vành cùng bên. Vỡ xương đỉnh lệch phải đường vỡ lan vào khớp vành cùng bên gây rộng khớp + Phiếu phẫu thuật ngày 29/9/2023: Rạch da hình dấu hỏi bán cầu trái. Bóc tách cân cơ, bộc lộ xương, đường vỡ xương thái dương lan trán, toác khớp trán đỉnh. Mở volet sọ bán cầu trái, máu tụ NMC đóng bánh, nguồn chảy máu từ động mạch màng não và đường vỡ xương. Tiến hành lấy máu tụ, khâu treo màng cứng quanh diện mở xương. Rạch da hình dấu hỏi bán cầu phải. Bóc tách cân cơ, bộc lộ xương, đường vỡ xương thái dương toác khớp trán đỉnh. Mở volet sọ bán cầu phải, máu tụ NMC đóng bánh, nguồn chảy máu từ động mạch màng não và đường vỡ xương Tiến hành lấy máu tụ, khâu treo màng cứng quanh diện mở xương: 66%.
- Gãy cánh lớn xương bướm trái + Gãy xương gò má cung tiếp trái: 10%.
- Thương tích vết loét da vùng chẩm kích thước trung bình: 2%.
- Thương tích vết mổ trước cổ đặt nội khí quản: 1%.
- Thương tích vết loét da sẹo hóa gót chân phải kích thước trung bình: 2%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Văn Thành L1 tại thời điểm giám định là: 73% (Bẩy ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác: Không.”
Ngày 25/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Yêu cầu định định tài sản đối với thiệt hại của 02 phương tiện sau tai nạn. Tại bản kết luận định giá tài sản số 150,151/KL-HĐĐGTS cùng ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L kết luận: Thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 98A-029.16 là 8.900.000 đồng. Thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 98AD-008.89 là 1.900.000 đồng. Tổng thiệt hại là 10.800.000 đồng.
Về nguồn gốc xe ô tô biển kiểm soát 98A-029.16 thuộc sở hữu của anh Ma Văn M, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, ngày 27/9/2023 N mượn của anh M để đi lại. Xe mô tô biển kiểm soát 98AD -008.89 là của anh Vũ Văn N1, sinh năm 1983, trú tại: thôn B, xã N, huyện L (là bố đẻ của L1). Ngày 27/9/2023 anh N1 để xe ở nhà L1 tự ý lấy đi, anh N1 không biết việc L1 lấy xe mô tô đi. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh Vũ Văn N1 về hành vi Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 27 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo La Văn Nguyên về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo La Văn N 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586; 590 và Điều 468 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo La Văn N phải bồi thường cho cháu Vũ Văn Thành L1 (Do anh Vũ Văn N1 và chị Nguyễn Thị Lịch đại D1) số tiền 235.500.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
Xác nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 215.500.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/8/2024, bị cáo La Văn N kháng cáo kêu oan, bị cáo không phạm tội. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 12/8/2024, chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại nộp đơn kháng cáo không đồng ý với nhận định của án sơ thẩm nhận định thiệt hại về sức khỏe của bị hại là do lỗi hỗn hợp mà do lỗi hoàn toàn của bị cáo gây ra. Đề nghị xem xét lại mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho cháu Vũ Văn Thành L1 và người theo nuôi trong thời gian chăm sóc cháu Vũ Văn Thành L1 điều trị tại bệnh viện.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo La Văn N thay đổi nội dung kháng cáo bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo La Văn N trình bày: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo thấy hành vi của mình bị tòa sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội không oan sai, do vậy bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xửội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo hoặc phạt tiền. Bị cáo xuất trình các tài liệu làm căn cứ để giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo hoặc phạt tiền để Hội đồng xét xử xem xét gồm: Biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn do bị cáo tự nguyện nộp bồi thường cho người bị hại và tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; Giấy chứng nhận của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lục Ngạn chứng nhận bị cáo đạt giáo viên dậy giỏi cấp cơ sở bậc tiểu học năm 2011-2012; 02 Giấy chứng nhận của Trường tiểu học T1 số 1 chứng nhận năm học 2017 - 2018 và 2018 - 2019 bị cáo đạt Giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp trường; Giấy xác nhận của trường tiểu học T1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Giấy khen của UBND xã T tặng bị cáo có thành tích xuất xắc trong hoạt động và công tác năm 2008; Xác nhận của UBND xã T bị cáo có em ruột La Văn A là Liệt sỹ; Giấy xác nhận của UBMT tổ quốc xã T xác nhận ngày 12/9/2024, bị cáo nộp ủng hộ quỹ Vì người nghèo số tiền 500.000 đồng, ngày 13/11/2024 ủng hộ chương trình Tết vì người nghèo xã T 500.000 đồng; bị cáo có bố vợ Nguyễn Văn D2 là thương binh hạng 2/4. Đối với kháng cáo của đại diện người bị hại về mức độ lỗi và bồi thường, bị cáo thấy án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ.
Chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại ủy quyền cho anh Thân Quang H2 trình bày:
- Về mức độ lỗi trong vụ án này, cháu Vũ Văn Thành L1 cũng có lỗi nhưng mức độ lỗi không đến 50% như án sơ thẩm đánh giá mà chỉ khoảng 30%, còn lỗi của bị cáo gây ra là 70%.
- Về phần bồi thường đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường tổng 700.000.000 đồng trừ số tiền 235.500.000 đồng mà bị cáo đã nộp còn lại phải bồi thường tiếp 464.500.000 đồng.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo và người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại nêu ra đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo La Văn N; sửa án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” đối với bị cáo N, nhưng cho hưởng án treo phải chịu thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, giao bị cáo cho ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo về phần nhận định lỗi và trách nhiệm bồi thường dân sự của chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại yêu cầu bồi thường về sức khỏe nên được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm.
Bị cáo La Văn N không tự bào chữa tranh luận, đối đáp gì.
Chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại ủy quyền cho anh Thân Quang H2 không tranh luận, đối đáp gì.
Luật sư Giáp Thị V bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Vũ Văn Thành L1 trình bày quan điểm bảo vệ: Về tội danh và hình phạt đối với bị cáo La Văn N Luật sư không có ý kiến gì. Tuy nhiên đối với kháng cáo của người đại diện bị hại về mức độ lỗi, Tòa sơ thẩm đánh giá mức độ lỗi của bị cáo và bị hại 50/50 là chưa chính xác; đối với bồi thường về mất thu nhập của người theo nuôi 150.000 đồng/ngày là chưa phù hợp (đã có bảng lương thu nhập của người theo nuôi cung cấp cho Tòa án). Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của dại diện hợp pháp của bị hại xác định mức độ lỗi của bị cáo là 70%, bị hại 30% yêu cầu bị cáo bồi thường 517.146.577 đồng, bị cáo chịu lỗi 70% là 362.002.604 đồng, đã bồi thường 235.500.000 đồng còn phải bồi thường tiếp 127.500.000 đồng; là có căn cứ.
Chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 và anh Thân Quang H2 là người đại diên theo ủy quyền của chi Lịch nhất trí với quan điểm của Luật sư trình bày, không tranh luận đối đáp gì thêm.
Đối đáp của đại diện VKS:
- Đối với quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày về xác định lỗi trong vụ án Viện kiểm sát đối đáp như sau: Khi bị cáo La Văn N điều khiển phương tiện xe ô tô rẽ đã giảm tốc độ; cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại điều khiển xe mô tô vượt trái với tốc độ khoảng 60-76km/h và đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi, đã va vào cánh cửa xe phía trước, bên trái của xe ô tô do N điều khiển rồi xe mô tô rê trượt lên đến phần gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô khiến xe mô tô và cháu L1 bị hất văng vào cột điện bên trái đường và dừng lại. Tòa sơ thẩm xác định lỗi trong vụ án này là lỗi hỗn hợp bị cáo và bị hại 50/50 là có căn cứ, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
- Về bồi thường dân sự đối với mất thu nhập của người theo nuôi, Tòa sơ thẩm tính 01 ngày mất thu nhập của người theo nuôi mức 150.000 đồng/ngày là phù hợp.
Kết thúc tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm của mình.
Bị cáo La Văn N nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là phạm tội, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo La Văn N và của chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi của bị cáo La Văn N thì thấy: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 27/9/2023, La Văn N, sinh năm 1973, trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Getz, biển kiểm soát 98A-029.16 đi trên đường T theo hướng thị trấn C đi xã N, huyện L. Khi đi đến Km 03+280 thuộc địa phận thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do N điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, dẫn đến va chạm với xe mô tô nhãn hiệu VIETTHAI biển kiểm soát 98AD-008.89 do cháu Vũ Văn Thành L1, sinh ngày 15/6/2007, trú tại thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển đi phía sau cùng chiều. Hậu quả: cháu L1 bị thương tích, tổn hại 73% sức khỏe, hai phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại là 10.800.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo La Văn N không thừa nhận hành vi phạm tội và cho rằng, bản án sơ thẩm xét xử kết tội bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là oan cho bị cáo, bị cáo kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo La Văn N thay đổi nội dung kháng cáo và trình bày: Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội không oan đối với bị cáo. Bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Hành vi của bị cáo La Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm b khoản 1 điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo La Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo hoặc phạt tiền của bị cáo La Văn N, Hội đồng xét xử thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định bị cáo La Văn N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, là có căn cứ.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cấp sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo La Văn N đã thành khẩn khai nhận diễn biến hành vi của mình, việc bị cáo không nhận tội là do nhận thức của bị cáo; sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã khắc phục thiệt hại cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo La Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông; hậu quả, làm cháu Vũ Văn Thành L1 bị thương tích tổn hại 73% sức khỏe, hai phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại là 10.800.000 đồng. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông do lỗi của bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải nghiêm trị bằng hình luật, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để răn đe và phòng ngừa chung. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo 01(Một) năm 06 (S) tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo La Văn N xuất trình 04 Biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, trong đó số tiền 215.500.000 đồng do bị cáo tự nguyện nộp bồi thường cho người bị hại, 10.975.000 đồng tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; 01 Giấy chứng nhận của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lục Ngạn chứng nhận bị cáo đạt giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở bậc tiểu học năm 2011-2012; 02 Giấy chứng nhận của Trường tiểu học T1 số 1 chứng nhận năm học 2017 - 2018 và 2018 - 2019 bị cáo đạt Giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp trường; Giấy xác nhận của trường tiểu học T1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; 01 Giấy khen của UBND xã T tặng bị cáo có thành tích xuất xắc trong hoạt động và công tác năm 2008; Xác nhận của UBND xã T bị cáo có em ruột La Văn A là Liệt sỹ; Giấy xác nhận của UBMT tổ quốc xã T xác nhận ngày 12/9/2024, bị cáo nộp ủng hộ quỹ Vì người nghèo số tiền 500.000 đồng, ngày 13/11/2024 ủng hộ chương trình Tết vì người nghèo xã T 500.000 đồng; bị cáo có bố vợ Nguyễn Văn D2 là thương binh hạng 2/4;
Hội đồng xét xử thấy tại cấp phúc thẩm bị cáo La Văn N có thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được áp dụng cho bị cáo tại cấp sơ thẩm. Xét thấy, bị cáo N có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi. Căn cứ Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo La Văn N có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội, mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có thể trở thành công dân tốt. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo La Văn N, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, không chấp nhận giảm hình phạt cũng như kháng cáo đề nghị xử phạt hình phạt chính bằng tiền của bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
[3] Xét kháng của chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại cho rằng thiệt hại về sức khỏe của bị hại là lỗi hoàn toàn của bị cáo gây ra, người bị hại không có lỗi. Đề nghị xem xét lại mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho cháu Vũ Văn Thành L1 và người theo nuôi trong thời gian chăm sóc cháu Vũ Văn Thành L1 điều trị tại bệnh viện. Hội đồng xét xử thấy:
Về xác định mức độ lỗi: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, khi La Văn N điều khiển xe ô tô đi đến Km03+280 thuộc địa phận thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, cách đường rẽ vào chùa A1 khoảng 50 mét, N quan sát thấy ở phía sau có một số xe mô tô và xe đạp điện đi cùng chiều, N bật đèn xi nhan trái để xin chuyển hướng rẽ sang trái để vào đường đi chùa A1. Sau đó N giảm tốc độ và chuyển hướng xe ô tô sang trái để rẽ vào đường đi chùa A1. Khi xe ô tô do N điều khiển đang rẽ trái thì lúc này có xe mô tô nhãn hiệu VIETTHAI màu đen, biển kiểm soát 98AD-008.89 do cháu Vũ Văn Thành L1, sinh ngày 15/6/2007, trú tại: Thôn B, xã N, huyện L điều khiển hướng thị trấn C đi xã N, đi với tốc độ khoảng 60-76km/h và đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi, đã va vào cánh cửa xe phía trước, bên trái của xe ô tô do N điều khiển rồi xe mô tô rê trượt lên đến phần gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô khiến xe mô tô và cháu L1 bị hất văng vào cột điện bên trái đường và dừng lại. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Thân Quang H2 là người đại diên theo ủy quyền của chi L là người đại diện hợp pháp của người bị hại cho rằng cháu Vũ Văn Thành L1 là người bị hại cũng có một phần lỗi khoảng 30%, còn lại là lỗi của bị cáo N 70%. Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do bị cáo La văn N và bị hại Vũ Văn Thành L1 không tuân thủ các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VIETTHAI màu đen, biển kiểm soát 98AD-008.89 của cháu Vũ Văn Thành L1 điều khiển chạy quá tốc độ cho phép, đi sai phần đường dẫn đến va chạm với xe ô tô do La Văn N điều khiển chuyển hướng đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008, tuy nhiên, hành vi trên của Vũ Văn Thành L1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Án sơ thẩm xác định trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi do đi sai phần đường và không làm chủ tốc độ là có căn cứ; do vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại cho rằng thiệt hại về sức khỏe của bị hại là lỗi hoàn toàn của bị cáo La Văn N gây ra.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại Vũ Văn Thành L1 yêu cầu bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật. Án sơ thẩm đã xem xét các khoản phải bồi thường cho bị hại như sau:
- Tiền viện phí thanh toán của Vũ Văn Thành L1: 210.514.000 đồng (chưa khấu trừ tiền bảo hiểm xã hội đã thanh toán).
- Tiền thuốc kê trong hóa đơn và chỉ định của bác sĩ và sữa theo chỉ định: 37.632.577 đồng.
- Thu nhập thực tế của người chăm sóc 307 ngày x 150.000đồng/ngày = 46.050.000đồng.
- Chi phí đi lại, bồi dưỡng sức khỏe: 60.000.0000đồng.
- Tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở: 50 x 2.340.000 đồng = 117.000.000.000 đồng.
Tổng cộng: 471.196.577 đồng
Hội đồng xét xử xét thấy: Thiệt hại về sức khỏe của cháu Vũ Văn Thành L1 là do lỗi hỗn hợp, xác định bị cáo và bị hại có lỗi ngang nhau. Căn cứ mức lương tối thiểu vùng tại Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu dối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; áp dụng từ ngày 01/7/2024 thì mức lương tại xã N, huyện L là 3.450.000đồng/1 tháng : 26 ngày = 132.600đồng/ngày. Án sơ thẩm đã áp dụng mức 150.000đồng/ngày và bị cáo đồng ý là đảm bảo quyền lợi của người theo nuôi chăm sóc bị hại.
Do vậy, án sơ thẩm buộc bị cáo La Văn N phải khắc phục thiệt hại ½ mức độ thiệt hại về sức khỏe của cháu L1, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền là 235.500.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng), là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đối với kháng cáo của chị L, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại ủy quyền cho anh Thân Quang H2 là người đại diên theo ủy quyền của chi Lịch trình bày, sau khi xét xử sơ thẩm thì cháu Vũ Văn Thành L1 vẫn phải đi viện điều trị thương tích có hóa đơn chứng từ thanh toán đề nghị cấp phúc thẩm xem xét. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại ủy quyền cho anh Thân Quang H2 là người đại diên theo ủy quyền của chi L được biết, theo nguyên tắc xét xử 02 cấp; các hóa đơn chứng từ mới điều trị cho cháu Vũ Văn Thành L1 chưa được cấp sơ thẩm xem xét thì đại diện người bị hại có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Tại cấp phúc thẩm không xem xét được vì nếu giải quyết sẽ vi phạm nguyên tắc xét xử 02 cấp.
không xuất trình được các tình tiết gì mới, do vậy không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của chị L, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo La Văn N được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Án phí hình sự phúc thẩm:
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo La Văn N; sửa bản án sơ thẩm
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo La Văn N 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại đề nghị xác định thiệt hại về sức khỏe của bị hại là lỗi hoàn toàn của bị cáo gây ra, người bị hại không có lỗi. Đề nghị xem xét lại mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho cháu Vũ Văn Thành L1 và người theo nuôi trong thời gian chăm sóc cháu Vũ Văn Thành L1 điều trị tại bệnh viện.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 và Điều 468 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo La Văn N phải bồi thường cho cháu Vũ Văn Thành L1 (Do anh Vũ Văn N1 và chị Nguyễn Thị Lịch đại D1) số tiền 235.500.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Xác nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 215.500.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
Xác nhận bị cáo La Văn N đã tự nguyện nộp tiền bồi thường trước khi xét xử phúc thẩm số tiền 215.500.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, tại các biên lai thu tiền số 0002378 ngày 11/10/2024 số tiền 100.000.000 đồng; biên lai thu tiền số 0002395 ngày 21/11/2024 số tiền 65.500.000 đồng; biên lai thu tiền số 0002378 ngày 11/10/2024 số tiền 100.000.000 đồng;
Bị cáo La Văn N không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Vũ Văn Thành L1 là bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo La Văn N đã nộp 10.975.000 đồng tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0002396 ngày 28/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |
Bản án số 228/2024/HS - PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 228/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: La Văn N - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
