|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 228/2024/HS-ST Ngày: 12/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành
2. Ông Trần Văn Vinh
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 227/2024/TLST-HSST ngày 17/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HS ngày 30/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tất T, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam; Sinh năm: 1973 tại Hà Nội; NKTT: Số A, ngõ T, phường T, quận Đ, Hà Nội. Nơi ở: P1216, CT8C khu đô thị Đ, xã T, huyện T, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do, trình độ học vấn: 11/12; Họ tên bố: Nguyễn Công H (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc B, Sinh năm: 1938; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con út. Họ tên vợ: Vũ Kim A; Sinh năm: 1972 – Đã ly hôn; Bị cáo có 01 con sinh năm: 1996
Tiền án: 01 tiền án.
Ngày 27/7/2022: TAND quận Hoàng Mai xử tù 12 tháng tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 (Bản án số 197/2022/HS-ST), chấp hành xong án phạt tù ngày 06/3/2023, chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
- Ngày 23/3/2006: TAND quận Thanh Xuân xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo thử thách 16 tháng về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 theo BLHS 1999 (Bản án số: 52/2006/HSST), đã xóa án tích;
- Ngày 18/01/2007: TAND quận Thanh Xuân xử phạt 20 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 139 BLHS 1999 (Bản án số 09/2007/HSST), đã xóa án tích;
- Ngày 13/9/2011: TAND quận Đống Đa xử phạt tháng tù về tội Tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 (Bản án số 412/2011/HSST), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2013, đã xóa án tích.
D chỉ bản số 502 lập ngày 09/8/2024 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 03/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Trần Thị L, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)
Trú tại: C, Sunside D, Khu T, xã T, huyện T, Hà Nội
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Quốc H1, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Trú tại: A, Tổ I, phường T, quận Đ, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 01/8/2024, Nguyễn Tất T mang theo 01 chiếc kìm bằng sắt dài khoảng 20cm rồi đi bộ một mình đến khu đô thị T thuộc xã T, T, Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản. Khi T đi qua Căn nhà 42 Sunside D của chị Trần Thị L thì T quan sát thấy ở vỉa hè trước cửa nhà có dựng 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu GIANT, xe được khóa bánh sau bằng khóa dây màu đen và không có người trông giữ nên T dùng chiếc kìm mang theo sẵn cắt đứt khóa dây trộm cắp chiếc xe đạp và điều khiển xe đi khỏi khu đô thị. Sau đó, T gọi điện thoại cho anh Phạm Quốc H1 và nói với anh H1 là cần bán chiếc xe đạp thì anh Hòa đồng Ý mua và bảo T mang xe đến khu vực bãi xe của trường Đại học T1 ở phố C, phường T, Đ, Hà Nội, đến 17h cùng ngày T mang xe đến gặp anh H1 và nói chiếc xe đạp là tài sản của T nên anh H1 đã mua lại chiếc xe với giá 1.800.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.
Hồi 17 giờ ngày 03/8/2024, tổ công tác Công an xã T, huyện T đang làm nhiệm vụ tại khu vực khu đô thị T thuộc xã T, T, Hà Nội phát hiện Nguyễn Tất T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, tại chỗ T khai nhận đang đi bộ một mình với mục đích trộm cắp tài sản nên tổ công tác đã đưa T về trụ sở giải quyết. Tại Công an xã T, Nguyễn Tất T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập được.
Cùng ngày, anh Phạm Quốc H1 đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu Giant đã mua của Nguyễn Tất T.
Ngày 05/8/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra yêu cầu định giá đối với 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu Giant ATX830 màu xanh dương do anh Phạm Quốc H1 tự nguyện giao nộp.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 113/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, UBND huyện T kết luận: 01 xe đạp địa hình nhãn hiệu GIANT ATX830 màu xanh dương đã qua sử dụng có giá 9.500.000 đồng.
Chị Trần Thị L đã giao nộp 01 chiếc USB chứa đoạn video ghi lại nội dung sự việc được trích xuất từ camera lắp trước cửa nhà. Cần tiếp tục lưu giữ chiếc USB trong hồ sơ vụ án.
Đối với anh Phạm Quốc H1, khi mua chiếc xe đạp anh H1 không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu GIANT ATX830 là tài sản của chị Trần Thị L nên ngày 12/9/2024, Cơ quan Điều tra đã trao trả lại cho chị Trần Thị L chiếc xe đạp này. Chị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Về dân sự: anh Phạm Quốc H1 không yêu cầu Nguyễn Tất T trả lại số tiền mua xe là 1.800.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 227/CT-VKSTT ngày 17/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Tất T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tất T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 18 đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về dân sự: Anh Phạm Quốc H1 không yêu cầu Nguyễn Tất T trả lại số tiền mua xe là 1.800.000 đồng nên không xem xét.
Về vật chứng: không có.
Về biện pháp tư pháp: Truy thu đối với Nguyễn Tất T số tiền 1.800.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 01/8/2024, tại khu vực vỉa hè trước cửa C Sunside D khu đô thị T thuộc xã T, T, Hà Nội, Nguyễn Tất T đã trộm cắp của chị Trần Thị L 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu GIANT ATX830 có giá trị là 9.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tất T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án năm 2022 về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm và bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51. Bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và tự nguyện ra đầu thú nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm hình sự và biện pháp chấp hành hình phạt:
Bị cáo Nguyễn Tất T có đủ năng lực, nhận thức để biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng xuất phát từ tư cách đạo đức kém và muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích thu lợi, xâm phạm quyền sở hữu tài sản và trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã được cải tạo, giáo dục pháp luật nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu GIANT ATX830 là tài sản của chị Trần Thị L, chị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự; anh Phạm Quốc H1 không yêu cầu Nguyễn Tất T trả lại số tiền mua xe là 1.800.000 đồng và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Xử lý vật chứng: không có.
[7] Biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Tất T số tiền 1.800.000 đồng.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
-
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024.
- Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về dân sự: Chị Trần Thị L, anh Phạm Quốc H1 không có yêu cầu gì về dân sự.
- Xử lý vật chứng của vụ án: không có.
- Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Tất T số tiền 1.800.000 đồng.
-
Án phí và quyền kháng cáo:
- - Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- - Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
- Bị cáo Nguyễn Tất T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM: | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | Nguyễn Văn Thắng |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN THẮNG |
Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 228/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
