Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2024/DS-ST

Ngày: 21-08-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Tất Linh;
  2. Ông Hà Công Tâm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

Ngày 21 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 268/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2022/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Ngân hàng T2) Xây dựng Việt Nam.

    Địa chỉ: 1 H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

    Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

    Địa chỉ: C T, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội.

    Là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng T3.

    Người đại diện theo pháp luật là ông Đoàn Văn T - Tổng giám đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng là ông Trần Hoàng T1 - Chuyên viên xử lý nợ (Theo Giấy ủy quyền số 248/2024/GUQ-CB ngày 19/07/2024). Có mặt

  2. Bị đơn:

    - Bà Dương Thị Thúy A, sinh năm 1990;

    Địa chỉ: 1 ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    - Ông Phí Quang Q, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Bà Dương Thị Thúy A, ông Phí Quang Q vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Hoàng T1 trình bày:

Ngày 29/9/2022, bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã ký với Ngân hàng TNHH MTV T3 Hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q vay số tiền 1.800.000.000 đồng (Bằng chữ: một tỷ tám trăm triệu đồng). Để bảo đảm khoản vay trên, bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 146/2022/MG001/02.1.HĐTC/090 ngày 13/10/2022.

Thông tin khoản vay và tài sản bảo đảm chi tiết như sau:

  • Số tiền cho vay: 1.800.000.000 đồng;
  • Mục đích vay: Mua nhà ở gắn liền với đất
  • Thời hạn vay: 240 tháng (từ ngày 29/9/2022 đến ngày 29/9/2042).
  • Lãi suất vay: 10,5%/năm
  • Lãi suất điều chỉnh = (bằng) lãi suất cơ sở 24 tháng (áp dụng tại ngày điều chỉnh lãi suất) + (cộng) biên độ 3,7%/năm, nhưng không vượt quá lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Pháp luật (nếu có).
  • Lãi trên nợ gốc quá hạn : Bằng 150% lãi suất trong hạn.
  • Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
  • Thời hạn trả nợ:
    • + Nợ gốc: Vào ngày 20 hàng tháng;
    • + Nợ lãi: Vào ngày 20 hàng tháng.
    • + Nợ gốc được trả thành: 240 kỳ.
    • + Số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ trả nợ: 7.500.000 đồng.
    • + Số dư nợ gốc phải trả kỳ cuối cùng: 7.500.000 đồng.
  • Tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản: Thuộc thửa đất số 1071, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CO 800336, số vào sổ cấp GCN: CS07463 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/08/2018, ngày 10/10/2022 được Chi nhánh VPĐKĐĐ Thành phố B cập nhật chỉnh lý biến động.

Tài sản trên được thế chấp tại Ngân hàng T3 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 146/2022/MG001/02.1.HĐTC/090 ngày 13/10/2022, được công chứng tại Văn phòng C (số công chứng: 9302, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, tỉnh Bến Tre ngày 13/10/2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 21/08/2024, bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã trả cho Ngân hàng T3 tổng số tiền là: 156.696.173 đồng (Bằng chữ: một trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc đã trả: 52.906.663 đồng, nợ lãi đã trả: 103.789.510 đồng.

Tạm tính đến ngày 21/08/2024, tổng số tiền bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q còn nợ Ngân hàng T3 là: 2.010.497.848 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ không trăm mười triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc hiện tại là 1.747.093.337 đồng, nợ lãi trong hạn là 244.171.128 đồng, lãi chậm trả lãi là 15.301.056 đồng, lãi chậm trả gốc là 3.932.327 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký, cụ thể bắt đầu từ kỳ thanh toán ngày 20/5/2023 bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã không đóng nợ gốc, nợ lãi đúng hạn theo quy định.

Ngày 30/10/2023 Ngân hàng T3 có đơn khởi kiện đối với bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Ngày 19/06/2024 khoản nợ của bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã được Ngân hàng T3 chuyển nhượng cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam theo Hợp đồng mua, bán nợ số 766/2024/MBN.VAMC-CB.

Vì vậy, nay Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre giải quyết:

  • Buộc bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng T3) với tổng số tiền là: 2.010.497.848 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ không trăm mười triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc hiện tại là 1.747.093.337 đồng, nợ lãi trong hạn là 244.171.128 đồng, lãi chậm trả lãi là 15.301.056 đồng, lãi chậm trả gốc là 3.932.327 đồng;
  • Buộc bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/9/2022 đã ký kết với Ngân hàng T3 kể từ ngày 22/08/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên đây thì Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T3 để thu hồi nợ, cụ thể là: “Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất 1071, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CO 800336, số vào sổ cấp GCN: CS07463 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/08/2018, ngày 10/10/2022 được Chi nhánh VPĐKĐĐ Thành phố B cập nhật chỉnh lý biến động”.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đối với Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q tại Ngân hàng T3 thì bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q có trách nhiệm cùng tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Bị đơn bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q:

Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày mở phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhiều lần nhưng bà A, ông Q đều vắng mặt, không cung cấp chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà A, ông Q không có mặt, vụ án không tiến hành mở phiên hòa giải được và tại phiên tòa bà A, ông Q vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà A, ông Q.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/09/2022, giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn ngày 29/09/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 146/2022/MG001/02.1.HĐTC/090 ngày 13/10/2022 giữa Ngân hàng T3 với bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q. Căn cứ theo quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng và Điều 317 của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 thì quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”. Theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, mục đích vay tiền của bà A, ông Q là để mua nhà ở gắn liền với đất; bà A, ông Q không có đăng ký kinh doanh. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp về dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ theo hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/09/2022, giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn ngày 29/09/2022 giữa Ngân hàng T3 với bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q có nội dung thể hiện bà A, ông Q có vay của Ngân hàng số tiền: 1.800.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 21/08/2024, bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã trả cho Ngân hàng T3 tổng số tiền là: 156.696.173 đồng (Bằng chữ: một trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc đã trả: 52.906.663 đồng, nợ lãi đã trả: 103.789.510 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký, cụ thể bắt đầu từ kỳ thanh toán ngày 20/5/2023 bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã không đóng nợ gốc, nợ lãi đúng hạn theo quy định.

Tạm tính đến ngày 21/08/2024, tổng số tiền bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q còn nợ Ngân hàng T3 là: 2.010.497.848 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ không trăm mười triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Dư nợ gốc hiện tại là 1.747.093.337 đồng, nợ lãi trong hạn là 244.171.128 đồng, lãi chậm trả lãi là 15.301.056 đồng, lãi chậm trả gốc là 3.932.327 đồng.

Xét Hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/09/2022, giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn ngày 29/09/2022 có giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với bà A, ông Q. Bà A, ông Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đúng hạn là vi phạm Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà A, ông Q thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay với số tiền tổng cộng 2.010.497.848 đồng nêu trên là có cơ sở và đúng quy định tại Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên được xem xét chấp nhận.

Ngày 19/06/2024 khoản nợ của bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đã được Ngân hàng T3 chuyển nhượng cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam theo Hợp đồng mua, bán nợ số 766/2024/MBN.VAMC-CB.

Xét thấy về chủ thể ký kết hợp đồng: Ngày 19/06/2024, Ngân hàng T3 và Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 766/2024/MBN.VAMC-CB, Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ số: 01-HĐMBN xác nhận chi tiết khoản nợ đã được mua bán của khách hàng bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đối với Ngân hàng T3 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/09/2022 đã được chuyển giao cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Việc mua bán nợ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành mà cụ thể là Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của chính phủ ngày 18/05/2013 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và các văn bản sửa đổi, bổ sung (Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/03/2015, Nghị định số 18/2016/NĐ-CP ngày 18/03/2016), Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/09/2013 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và các văn bản sửa đổi, bổ sung (Thông tư số: 14/2015/TT-NHNN ngày 28/08/2015, Thông tư số: 08/2016/TT-NHNN ngày 16/06/2016, Thông tư số: 09/2017/TT-NHNN ngày 14/08/2017, Thông tư số: 32/2019/TT-NHNN ngày 31/12/2019 của Thống đốc Ngân hàng N.

Xét thấy về chủ thể mua bán nợ theo Hợp đồng mua bán nợ số: 766/2024/MBN.VAMC-CB ngày 19/06/2024 giữa Ngân hàng T3 và Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam là đúng quy định pháp luật. Do đó, Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam có quyền kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng T3 yêu cầu bị đơn bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền 2.010.497.848 đồng nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, buộc bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam số tiền vốn vay và lãi còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/09/2022 với số tiền tính đến ngày 21/08/2024 là 2.010.497.848 đồng (Hai tỷ không trăm mười triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng).

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 146/2022/MG001/02.1.HĐTC/090 ngày 13/10/2022 giữa Ngân hàng T3 với bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q là để đảm bảo cho các khoản nợ vay của bà A, ông Q đối với ngân hàng. Hợp đồng thế chấp này được các bên tự nguyện ký kết, được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, tỉnh Bến Tre. Như vậy, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với Điều 119, 298, 299, 319 và Điều 320 của BLDS 2015 nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên có hiệu lực pháp luật, buộc các bên phải thực hiện.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 72.210.000đ (Bảy mươi hai triệu hai trăm mười nghìn đồng), bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q phải liên đới chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 35, các Điều 147, 207, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ các Điều 119, 298, 299, 317, 319, 320, 322, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
  • Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam đối với bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”.
    1. Buộc bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam tổng số tiền là 2.010.497.848 đồng (Hai tỷ không trăm mười triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng), bao gồm: số tiền nợ gốc còn lại của hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/09/2022 là 1.747.093.337 đồng; nợ lãi trong hạn là 244.171.128 đồng, lãi chậm trả lãi là 15.301.056 đồng và lãi chậm trả gốc là 3.932.327 đồng.
    2. Bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên vốn gốc còn lại của Hợp đồng tín dụng số 146/2022/LOS22/MG001/HĐTD/090 ngày 29/09/2022 giữa Ngân hàng T3 với bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đối với số tiền chậm trả tính từ ngày 22/08/2024 đến khi thi hành án xong.
    3. Trường hợp bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q không thanh toán hết các khoản nợ vay theo hợp đồng nêu trên cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam thì Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản là “Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản: Thuộc thửa đất 1071, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CO 800336, số vào sổ cấp GCN: CS07463 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/08/2018, ngày 10/10/2022 được Chi nhánh VPĐKĐĐ Thành phố B cập nhật chỉnh lý biến động” để thu hồi nợ.

    Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q đối với Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q tại Ngân hàng T3 thì bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q có trách nhiệm cùng tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q phải có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền án phí là 72.210.000đ (Bảy mươi hai triệu hai trăm mười nghìn đồng).

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng T3 (Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 33.416.000₫ (Ba mươi ba triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0001252 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn bà Dương Thị Thúy A và ông Phí Quang Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Chợ Lách;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Chợ Lách;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 228/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu bà An, ông Quân trả tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger