Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/9/2024

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Nghị

Bà Trần Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bà Mai Thị Thìn – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Cao Ngọc D, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn V, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

Anh Duy có mặt, chị S vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là anh Cao Ngọc D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thu S quen biết nhau, do tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T vào ngày 16/10/2008. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại ba mẹ anh tại thôn V, xã B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 5 năm thì sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: vợ chồng không có có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau từ tháng 05/2016 cho đến nay nên anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu S.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Cao Thị Bảo T, giới tính: Nữ, sinh ngày 31/10/2009. Hiện nay con chung đang sống với anh D. Khi ly hôn, anh D yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Trong bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị Thu S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng quen biết nhau, do tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T vào ngày 16/10/2008. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại ba mẹ anh D tại thôn V, xã B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 5 năm thì sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: vợ chồng không có có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi với nhau. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau từ tháng 05/2016 cho đến nay. Nay anh D có đơn yêu cầu ly hôn, chị S không đồng ý. Tuy nhiên, nếu anh D kiên quyết ly hôn thì chị yêu cầu Toà giải quyết theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Cao Thị Bảo T, giới tính; Nữ, sinh ngày 31/10/2009. Hiện này con chung đang sống với anh D. Khi ly hôn theo nguyện vọng của con chung muốn ở với ai thì người đó được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, nếu con ở với chị thì chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu S đã được Toà án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị S. Về nội dung: Áp dụng Điều 8, 9 và

Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Ngọc D, cho anh Cao Ngọc D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu S. Về con chung: Giao cháu Cao Thị Bảo T, sinh năm 31/10/2009 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị S không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chunng: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn chị Nguyễn Thị Thu S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại Điều 277, 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Ngọc D và chị Nguyễn Thị Thu S tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã U, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 16/10/2008 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh D tại thôn V, xã B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 5 năm thì sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: vợ chồng không có có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi với nhau. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau từ tháng 05/2016 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, việc anh D yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu S là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh D được ly hôn với chị S.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên: Cao Thị Bảo T, giới tính; Nữ, sinh ngày 31/10/2009. Ly hôn cả hai đều có yêu cầu được nuôi con chung nhưng xét nguyện vọng của cháu T mong muốn ở với mẹ, nghĩ nên giao cháu Cao Thị Bảo T cho chị S được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị S nhận trách nhiệm nuôi con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị S được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Cao Ngọc D và chị Nguyễn Thị Thu S không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Cao Ngọc D phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003539 ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

[6] Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của anh Cao Ngọc D.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Ngọc D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu S.
  3. Về con chung: Giao cháu Cao Thị Bảo T, giới tính; Nữ, sinh ngày 31/10/2009 cho chị Nguyễn Thị Thu S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh Duy không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị S không yêu cầu.

    Anh Cao Ngọc D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Cao Ngọc D và chị Nguyễn Thị Thu S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Cao Ngọc D phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003539 ngày 11/3/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn thu. Anh Duy đã nộp xong án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
  • - UBND xã Bình Hoà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 228/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh D xin ly hôn chị S vì mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger