|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 228/2024/HS-ST Ngày 30-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan và bà Ngô Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương L - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xét xử số 3 Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 215/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với:
- Họ và tên: Nông Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21 tháng 02 năm 1988 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Tổ B, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nông Đức Đ (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Không có.
- Tiền án:
- + Tại Bản án số 05/2017/HSST ngày 13/01/2017, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Tại Bản án số 235/2017/HSST ngày 22/6/2017, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 05/2017/HSST ngày 13/01/2017, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên buộc bị cáo T phải chấp hành 27 tháng tù. Chấp hành xong án phí ngày 17/4/2018. Ra trại ngày 07/5/2019.
- + Tại Bản án số 11/2020/HSST ngày 13/5/2020, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Tại Bản án số 193/2020/HSST ngày 22/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 28/7/2023. Chưa chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung.
- Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 105/2011/HSST ngày 20/4/2011, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Chế tạo trái phép vật liệu nổ, tàng trữ trái phép vật liệu nổ, sử dụng trái phép vật liệu nổ, mua bán trái phép vật liệu nổ, hủy hoại tài sản”. Ra trại ngày 13/4/2013. Chấp hành xong án phí ngày 04/7/2011.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
- Bị hại: Anh Kim Văn V, sinh năm 1978, có mặt.
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/3/2024, Nông Đức T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không rõ biển kiểm soát đến khu vực tổ A, phường T, thành phố T xem có nhà nào sơ hở về tài sản để trộm cắp. Khi đến Gara ô tô V, T dựng xe ở ngoài cửa rồi vào bên trong hỏi anh Kim Văn V, sinh năm 1978, hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên là chủ Gara: “Có chiếc xe Huyndai bị mất điện trên bảng taplo anh có sửa không?”, anh V trả lời là: “Có”. Trong lúc anh V đang sửa chữa ô tô ở dưới gầm xe, không có người xung quanh nên T giả vờ nghe điện thoại rồi tìm kiếm xung quanh Gara xem có tài sản gì giá trị không để trộm cắp. T nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng và 01 chiếc điện thoại Xiaomi Not 12, màu xanh đen, đều đã qua sử dụng để trên mặt bàn uống nước nên T đã lấy 02 chiếc điện thoại này cất vào trong túi áo. Sau đó, T đi bộ ra xe rời đi. Khi đến khu vực cầu G, thành phố T, T đổi 02 chiếc điện thoại trên cho một người đàn ông không quen biết để lấy ma túy sử dụng. Số ma túy mà T đổi được tương đương với số tiền là 1.000.000 đồng. Số ma túy này T đã sử dụng hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thái Nguyên kết luận giá trị của 02 chiếc điện thoại trên là 2.500.000 đồng.
Cáo trạng số 218/CT-VKSVN ngày 06/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Nông Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Nông Đức T từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/4/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc mũ bảo hộ lao động bằng nhựa, màu trắng, có dòng chữ Green Life đã qua sử dụng. Về trách
nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị hại ông Kim Văn V không tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người bị hại; Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án .
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/3/2024, tại khu vực tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Nông Đức T có hành vi trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng trị giá 700.000 đồng và 01 (một) điện thoại Xiaomi Not 12, màu xanh đen, đã qua sử dụng trị giá 1.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản T trộm cắp là 2.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nông Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
g) Tái phạm nguy hiểm”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra. Đồng thời cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nông Đức T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra giải quyết vụ án xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng:
- - 01 (một) chiếc mũ bảo hộ lao động bằng nhựa, màu trắng, có dòng chữ Green Life đã qua sử dụng. Đây là tài sản đồ vật của bị cáo T, tại phiên tòa bị cáo T xác định không còn giá trị sử dụng và không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra anh Kim Văn V xác định: Ngày 13/3/2024, tại Gara ô tô Vĩnh Linh Nông Đức Thành trộm cắp A (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng và 01 (một) điện thoại Xiaomi Not 12, màu xanh đen, đã qua sử dụng của anh, nên yêu cầu T bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay anh Kim Văn V không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường cho anh tài sản do T trộm cắp ngày 13/3/2024 là 5.000.000 đồng như anh đã đề nghị. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Trong vụ án này, đối với người đàn ông không quen biết đã đổi ma túy cho bị cáo T, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác minh được đối tượng này nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô T mượn của một người đàn ông tên T1 không rõ lai lịch, địa chỉ để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác minh được chiếc xe mô tô và đối tượng này nên không có căn cứ xử lý.
[10]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nông Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 299, 329, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về hình phạt chính: Xử phạt Nông Đức T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/4/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Nông Đức T trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xet giải quyết.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc mũ bảo hộ lao động bằng nhựa, màu trăng, có dòng chữ Green Life, đã qua sử dụng của bị cáo Nông Đức T.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, có đặc điểm và tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục THADS thành phố T số 232 ngày 12/8/2024).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hương |
Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 228/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Thành phạm tội trộm cắp tài sản
