1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 228/2024/HS-ST
Ngày 17 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương
Bà Lò Thị Ánh Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản - Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: Bà
Hoàng Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện
Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 241/2024/HSST ngày 30
tháng 8 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXXST-HS
ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn D (tên gọi khác: Không có) - Sinh năm: 1983; Nơi sinh:
Tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản S, xã T, huyện
Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc:
Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn
M và bà Lò Thị N; bị cáo có vợ là chị Quàng Thị M1 và hai con, con lớn sinh
năm 2005 con nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/11/2003, D bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai châu (nay là
tỉnh Điện Biên) xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04
năm về tội Cố ý gây thương tích; bị cáo phải bồi thường 3.500.000 đồng cho bị
hại và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (theo bản án 07/HSST).
Ngày 18/6/2004 bị cáo đã nộp tiền án phí; về bồi thường thiệt hại, bị hại không
yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Bị cáo D đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị
cáo có mặt tại phiên toà.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ ngày 19/6/2024, khi Dân đang đi bộ trên đường thuộc khu vực
bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã H, huyện Đ
chủ trì, phối hợp với Công an xã T, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại
túi quần bên trái của Dân đang mặc có 01 gói nilon màu hồng, chứa 0,18 gam
Heroine.
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do khoảng 10 giờ 30 phút
ngày 19/6/2024, Lò Văn D đi bộ từ nhà ở Bản S, xã T, huyện Đ đến khu vực
đường giữa bản X, xã T, huyện Đ mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại
đây, Dân gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 35
tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Mua xong,
Dân cất giấu gói Heroine vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà, trên
đường về thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định số 1077/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò
Văn D có khối lượng 0,18 gam các cục bột màu trắng là chất ma túy: Loại
Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,13 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 184/CT-VKSHĐB ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên giữ
quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên
của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của
Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định);
01 mảnh nilon màu hồng.
Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự,
điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và lời
luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đề nghị
3
HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo trong
quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ
vụ án, có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ ngày 19/6/2024, tại khu vực bản X, xã
T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn D có hành vi cất giấu trái phép trên người
0,18 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố
cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người
có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với
bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của
nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ ... trái phép chất ma túy nhưng để
thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng
trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, không
những xâm phạm những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất
ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Đ. Do
vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và
phòng ngừa tội phạm.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về nhân thân: Bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội cố ý gây thương tích, mặc
dù đã được xóa án tích nhưng là người có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, cũng
như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của
mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Từ những phân tích nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy
tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38
của BLHS xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 17 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp
luật, bị cáo không bị oan.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt
bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, bị cáo làm
ruộng, thu nhập không ổn định, bị cáo có ngôi nhà sàn cũ là nơi sinh sống của cả
gia đình, ngoài ra không có tài sản khác có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử
4
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có
ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không biết
tên, địa chỉ nên không có cơ sở giải quyết trong vụ án.
[10] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật
Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định) do
là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 (một) mảnh nilon màu hồng do không có giá trị.
[11] Về án phí:Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của
Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 19/6/2024).
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định);
01 (một) mảnh nilon màu hồng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa cơ quan cảnh
sát điều tra, Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
5
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
(ngày 17/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Nguyễn Thị Bằng |
Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 228/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 11 giờ ngày 19/6/2024, tại khu vực bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn D có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,18 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng.
