Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 228/2024/HS-ST

Ngày: 15/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Sỹ

- Bà Trần Thị Phối

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 237/2024/TLST-HS ngày 24/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST-HS ngày 01/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN XUÂN T, sinh ngày 25/9/1997 tại tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: tổ A, khu phố I, p. N, Tp ., Bình Định; Nơi cư trú hiện nay: không xác định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Xuân C, sinh năm 1969; Con bà: Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/7/2019, bị Công an T2 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của người khác” quy định tại điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP; Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ từ ngày 15/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 18/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T2; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu đi nước ngoài lao động nhưng bị mất Giấy chứng minh nhân dân nên vào khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Xuân T nảy sinh ý định vào mạng xã hội facebook tìm người làm giả. T vào trang facebook (không nhớ địa chỉ) có nội dung làm Giấy chứng minh nhân dân và kèm theo số điện thoại nên T đã liên hệ với số điện thoại trên thông qua ứng dụng Zalo thì gặp một người (Không rõ lai lịch) đặt làm 01 Giấy chứng minh nhân dân giả. Người này thông báo chi phí làm giả là 1.500.000 đồng và yêu cầu T cung cấp các thông tin họ tên; ngày, tháng, năm sinh; số chứng minh nhân dân, địa chỉ thường trú, ảnh chụp chân dung. T biết Giấy chứng minh nhân dân đặt làm trên mạng là giả nhưng vẫn đồng ý và cung cấp các thông tin nêu trên. Khoảng một tuần sau, T nhận được Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Xuân T (Số: [...]; sinh ngày: 25-09-1997; nguyên quán: 02 L, Ngô M, Q, Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 02 L, N, Q, Bình Định; cấp ngày: 06/8/2018; do Giám đốc Công an tỉnh B cấp) từ nhân viên giao hàng nhanh. Ngày 29/5/2023, T mang Giấy chứng minh nhân dân trên đến Phòng Q – Công an tỉnh B làm hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu. Quá trình tiếp nhận hồ sơ, cán bộ Phòng Q – Công an tỉnh B phát hiện chứng minh nhân dân T sử dụng có nghi vấn là giả nên chuyển đến Cơ quan điều tra giải quyết.

Ngày 29/6/2023, Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Xuân T (Số: [...]; sinh ngày: 25-09-1997; nguyên quán: 02 L, Ngô M, Q, Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 02 L, N, Q, Bình Định; cấp ngày: 06/8/2018; do Giám đốc Công an tỉnh B cấp) mà T đã sử dụng là giả.

Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng vụ án: 01 Giấy chứng minh nhân dân giả mang tên Nguyễn Xuân T (Số: [...]; sinh ngày: 25-09-1997; nguyên quán: 02 L, Ngô M, Q, Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 02 L, N, Q, Bình Định; cấp ngày: 06/8/2018; do Giám đốc Công an tỉnh B cấp) (lưu vào hồ sơ vụ án).

Bản cáo trạng số 236/CT-VKSQN ngày 23/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vì có nhu cầu đi nước ngoài nhưng bị mất chứng minh nhân dân nên Nguyễn Xuân T đã thực hiện hành vi đặt làm Giấy chứng minh nhân dân giả trên mạng rồi sử dụng đến Phòng quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh B làm hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu vào ngày 29/5/2023. Hành vi trên của Nguyễn Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 03 tháng 02 ngày đến 06 tháng tù.

- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Xuân T là người có đủ sức khỏe, đầy đủ năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo biết rõ việc sử dụng tài liệu giả là hành vi bị pháp luật cấm, nhưng do có ý thức xem thường pháp luật, sau khi làm mất chứng minh nhân dân, bị cáo không đến cơ quan công an để làm lại theo quy định mà vào khoảng tháng 5/2022, bị cáo T lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm và đặt làm giả 01 Chứng minh nhân dân mang tên mình. Đến ngày 29/5/2023, Nguyễn Xuân T đã sử dụng Giấy Chứng minh nhân dân giả nói trên để làm hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu nộp vào Phòng quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh B. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước, do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời, Phòng quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh B cũng có Công văn số 393/PA08-Đ1 ngày 08/4/2024 xác định: “hành vi phạm tội của Nguyễn Xuân T đã bị phát hiện, ngăn chặn ngay từ lúc đương sự nộp hồ sơ nên chưa gây thiệt hại gì đáng kể. Giấy chứng minh nhân dân giả mà Nguyễn Xuân T sử dụng chỉ giả về hình thức còn nội dung thông tin nhân thân vẫn đúng là của đương sự”, trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, bản thân mong muốn được tái hòa nhập cuộc sống nên HĐXX thấy rằng cần áp dụng khoản 3 Điều 54 của BLHS, xử bị cáo một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam cũng đủ để bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa tội phạm và đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên HĐXX xét thấy bị cáo hiện nay không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an T2 đã thu giữ: 01 Giấy chứng minh nhân dân giả mang tên Nguyễn Xuân T (Số: [...]; sinh ngày: 25-09-1997; nguyên quán: 02 L, N, Q, Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 02 L, N, Q, Bình Định; cấp ngày: 06/8/2018; do Giám đốc Công an tỉnh B cấp), xét thấy đây là vật chứng của vụ án nên lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 03 (ba) tháng 02 (hai) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/8/2024). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Về xử lý vật chứng: lưu hồ sơ vụ án: 01 Giấy chứng minh nhân dân giả mang tên Nguyễn Xuân T (Số: [...]; sinh ngày: 25-09-1997; nguyên quán: 02 L, Ngô M, Q, Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 02 L, N, Q, Bình Định; cấp ngày: 06/8/2018; do Giám đốc Công an tỉnh B cấp).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Văn Thị Minh Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự - sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 228/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo sử dụng CCCD giả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger