Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 228/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/3/2025

V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Huế; Bà Nguyễn Phước Trinh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1388/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1993 (có mặt).

Địa chỉ: Số A đường A, Tổ A, Ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Trần Khánh D, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B đường C, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn xin ly hôn ngày 27/11/2024, tại biên bản hòa giải ngày 08/01/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm H trình bày sự việc như sau:

Bà và ông Trần Khánh D tự nguyện chung sống, có tổ chức cưới vào năm 2019 và đăng ký hết hôn vào ngày 16/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 43 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hòa hợp, không tôn trọng ý kiến của nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Sau khi bà sinh con năm 2020, ông D bỏ về nhà ba mẹ ông D tại xã P, huyện C để sống nên vợ chồng bà đã sống ly thân từ đó đến nay. Từ khi ly thân đến nay, ông D cũng không quan tâm gì đến bà và con. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông D,

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên là Trần Nguyễn Khánh A, sinh ngày 12/9/2020, con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Khánh D không có mặt nên không có lời khai của ông D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Trần Khánh D có nơi cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 1388/TBTL-TA ngày 03 tháng 12 năm 2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 1388-1/TB-TA ngày 16/12/2024 kèm giấy triệu tập; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 kèm giấy triệu tập; Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, ông D không có mặt mà không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm H về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Trần Khánh D, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Diễm H và ông Trần Khánh D tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/3/2020, Giấy chứng nhận kết hôn số 43 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Tại đơn xin ly hôn cũng như tại phiên tòa, bà H khai rằng sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hòa hợp, không tôn trọng ý kiến của nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Sau khi bà sinh con năm 2020, ông D bỏ về nhà ba mẹ ông D tại xã P, huyện C để sống nên vợ chồng bà đã sống ly thân từ đó đến nay. Từ khi ly thân đến nay, ông D cũng không quan tâm gì đến bà và con. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông D.

Xét thấy, mặc dù trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông D không có mặt nhưng vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông D không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà H là có căn cứ.

- Về con chung:

Bà H và ông D có 01 con chung tên là Trần Nguyễn Khánh A, sinh ngày 12/9/2020, con chung đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy do trẻ Trần Nguyễn Khánh A còn nhỏ và đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao trẻ A cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là sự tự nguyện của bà H, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông D được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Bà H khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà H khai không có nợ chung nên không xét.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà H phải nộp tiền án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Diễm H.

    Về quan hệ hôn nhân:

    Bà Nguyễn Thị Diễm H được quyền ly hôn với ông Trần Khánh D.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 16/3/2020 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà H và ông D, không còn giá trị pháp lý.

    Về con chung:

    Giao trẻ Trần Nguyễn Khánh A, sinh ngày 12/9/2020 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

    Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

    Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Ông D được quyền thăm con, không ai được cản trở.

  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Án phí ly hôn sơ thẩm buộc bà H phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0063063 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bà H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

    Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H. Củ Chi;
  • - UBND xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Tp.Hồ Chí Minh
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 228/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn đơn phương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger