|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 228/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/11/2025
Tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
- Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn H, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Ấp T, xã M, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Ấp T, xã M, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Huỳnh Văn H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thu H1 tự quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 039, quyển số 01, ngày 29/7/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về sinh sống tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp T, xã M, tỉnh An Giang).
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng đến gần đây, giữa anh và chị H1 phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mặc dù đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành, nên anh và chị H1 đã ly thân nhau. Vì các lý do trên, anh nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục tình trạng như thế này được nữa, anh muốn giải thoát cuộc hôn nhân này, để mỗi người có cuộc sống tốt hơn, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị H1.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh và chị H1 có ba người con chung tên Huỳnh Tấn P, sinh ngày 10/5/2007; Huỳnh Thị Trà M, sinh ngày 30/4/2010 và Huỳnh Thị Diễm K, sinh ngày 12/7/2017. Hiện nay, Huỳnh Tấn P đã đủ tuổi trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa giải quyết. Còn Huỳnh Thị Trà M và Huỳnh Thị Diễm K, từ khi ly thân đến nay hai con chung đang ở với anh. Nên khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con đến tuổi trưởng thành. Anh không yêu cầu chị H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H1 trong quá trình chung sống không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H1:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho H1, nhưng chị H1 không có ý kiến gì và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Huỳnh Văn H xin được ly hôn và nuôi con với chị Nguyễn Thị Thu H1. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H1 có chỗ ở hiện nay tại ấp T, xã M, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Khu vực 4 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Huỳnh Văn H, bị đơn Nguyễn Thị Thu H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị H1 tự quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất làm lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 039, quyển số 01, ngày 29/7/2008. Như vậy, hôn nhân giữa anh H với chị H1 là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của anh H về việc xin ly hôn với chị H1 thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa anh H và chị H1 có phát sinh mâu thuẫn, mà theo trình bày của anh H là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mặc dù đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành, nên anh và chị H1 đã ly thân nhau. Anh H xác định trong thời gian anh và chị H1 sống ly thân với nhau, thì giữa anh và chị H1 không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên anh H bỏ qua mọi chuyện, cho chị H1 thêm cơ hội để đoàn tụ, cùng nuôi dạy con cái, nhưng anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị H1. Đồng thời, chị H1 cũng không có ý kiến muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh H, nên không có mặt tại Toà và có đơn xin vắng mặt.
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh H với chị H1 đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh H yêu cầu được ly hôn với chị H1 là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho anh H được ly hôn với chị H1.
[3.2] Về quan hệ con chung: Anh H và chị H1 có ba người con chung tên Huỳnh Tấn P, sinh ngày 10/5/2007; Huỳnh Thị Trà M, sinh ngày 30/4/2010 và Huỳnh Thị Diễm K, sinh ngày 12/7/2017. Hiện nay, Huỳnh Tấn P đã đủ tuổi trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa giải quyết. Còn Huỳnh Thị Trà M và Huỳnh Thị Diễm K, từ khi ly thân đến nay hai con chung đang ở với anh. Nên khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con đến tuổi trưởng thành. Anh không yêu cầu chị H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX xét thấy, từ khi anh H và chị H1 sống ly thân với nhau cho đến nay, thì anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trà M và Diễm K và hiện nay hai cháu vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu Trà M và Diễm K phát triển tốt về mọi mặt, nên giao cho anh H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu đến trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung: Anh H xác nhận giữa anh và chị H1 không tài sản chung và nợ chung, nên anh H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu H1.
- Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Huỳnh Thị Trà M, sinh ngày 30/4/2010 và Huỳnh Thị Diễm K, sinh ngày 12/7/2017 cho anh Huỳnh Văn H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh Huỳnh Văn H nuôi con; chị Nguyễn Thị Thu H1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Huỳnh Văn H xác nhận giữa anh và chị Nguyễn Thị Thu H1 không có tài sản chung và nợ chung, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc anh Huỳnh Văn H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003910 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Anh Huỳnh Văn H không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 228/2025/HNGĐ-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 228/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn H - Nguyễn Thị Thu H
