Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 288/2025/DS-PT

Ngày 14 - 4 - 2025

V/v Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu tuyên

vô hiệu văn bản phân chia di sản và hủy giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ri - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 36/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản phân chia di sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 101/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1970; địa chỉ: số A, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đỗ Thành H, sinh năm 1996; địa chỉ: số D, Đại lộ B, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 25/01/2022). (có mặt)

Người bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Doãn H1, là Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Trần Thu P, sinh năm 1958; địa chỉ: số A, đường L, khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Bùi Thị Quỳnh Y, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B H, phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1963; địa chỉ: số A đường V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1965; địa chỉ: số C, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

    Người đại diện hợp pháp của bà V: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1990, địa chỉ: thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; địa chỉ liên lạc: số D B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 22/7/2024). (có mặt)

  3. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968; địa chỉ: số C, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  4. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1973; địa chỉ: số A, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Thanh Đại A, sinh năm 1979; địa chỉ: số A, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  6. Ông Mã Thành N, sinh năm 1977; địa chỉ: số A, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  7. Bà Trần Thị M, sinh năm 1946; chết ngày 02/8/2023.

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M:

    1. Bà Lê Thanh Thanh N1, sinh năm 1963, địa chỉ: số A đường N, Phường G, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
    2. Ông Lê Thanh T2, sinh năm 1965, địa chỉ: số A đường T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  8. Ông Trần Văn D, sinh năm 1972; địa chỉ: số C đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  9. Ông Võ Thanh H2, sinh năm 1992; địa chỉ: số C, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  10. Ông Võ Thành L1, sinh năm 2002; địa chỉ: số C, đường Đ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  11. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: số A, đường Q, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn D1 – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1058/QĐ-BND ngày 11/4/2024). (vắng mặt)

  12. Ủy ban nhân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Anh V1, là Chủ tịch Ủy ban nhân phường, là người đại diện theo pháp luật. (vắng mặt)

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh L, bà Trần Thu P, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L trình bày:

Bà ngoại ông Nguyễn Thanh L là cụ Nguyễn Thị R, sinh năm 1917, chết ngày 15/07/2003 theo Giấy chứng tử số 81, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/08/2007. Cụ R có hai đời chồng là cụ Nguyễn Văn T3 (chết đã lâu, không rõ năm chết) và cụ Trần Văn N2 (chết đã lâu, không rõ năm chết). Cụ R có tổng cộng 5 người con, bao gồm:

  1. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1938. Bà T4 chết ngày 02/11/2008. Bà T4 có chồng là Lý Minh H3 (đã chết năm 1998) và có 06 người con là bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Thanh B và ông Nguyễn Thanh Đại A.
  2. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1941, chết ngày 21/5/2015. Bà T5 có chồng là Mã Quốc A1 (đã chết trước bà T5, không rõ năm chết) và 01 người con là ông Mã Thành N.
  3. Bà Trần Thị M, sinh năm 1946, chết ngày 02/8/2023. Bà M có chồng là ông Lê Văn C (đã chết năm 2005) và có 02 người con là bà Lê Thanh Thanh N1 và ông Lê Thanh T2.
  4. Bà Trần Thị D2, sinh năm 1951, chết ngày 11/7/2009. Bà D2 có chồng là ông Trần Văn Ô (ông Ô chết năm 1972, không có giấy chứng tử) và 02 người con là ông Trần Văn D và bà Trần Thị H4, (bà H4 chết năm 2007), bà H4 không có chồng, có 02 người con là ông Võ Thanh H2 và ông Võ Thành L1.
  5. Bà Trần Thu P, sinh năm 1958.

Lúc sinh thời, cụ Nguyễn Thị R có tạo lập được khối tài sản gồm: Phần đất có diện tích 3.091,4m², thửa đất số 27, 401, tờ bản đồ số 12, 17, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trên đất có 01 căn nhà 03 gian diện tích khoảng 116m² (rộng 11,6m, dài 10m), kết cấu: mái ngói, vách tường, nền gạch.

Đến ngày 15/07/2003, thì cụ Nguyễn Thị R chết không để lại di chúc.

Tuy nhiên, vào ngày 21/09/2007 bà Trần Thị M, bà Trần Thị D2 và bà Trần Thu P tự ý đến Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T để tiến hành tự phân chia di sản của cụ Nguyễn Thị R mà không thông báo hoặc được sự đồng ý của các đồng thừa kế khác. Theo đó, bà M, bà D2 và bà P đã tự ý định đoạt toàn bộ phần đất có diện tích 3.091,4m², thửa đất số 27, 401, tờ bản đồ số 12, 17, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và căn nhà 03 gian trên đất cho bà Trần Thu P được hưởng toàn bộ mà hoàn toàn không có được sự đồng ý thống nhất của tất cả các đồng thừa kế của bà R bao gồm bà Nguyễn Thị T4 và bà Nguyễn Thị T5.

Ngày 25/10/2007, bà Trần Thu P được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 179060, số vào sổ cấp GCN số H29260 đối với phần đất trên.

Vào ngày 20/02/2021, bà P tiếp tục tự ý xây dựng 08 căn nhà trọ có diện tích 16m²/căn và 02 căn nhà cấp 4 có diện tích 40m2/căn.

Không đồng ý với hành động trên của bà P, ông L cùng các anh chị em khác có đến và yêu cầu bà P phải chấm dứt hành vi của mình, đồng thời yêu cầu trả lại hiện trạng đất và nhà thờ như ban đầu. Tuy nhiên, bà P không đồng ý với yêu cầu của ông L và các đồng thừa kế khác.

Nhận thấy, hành vi của bà P là trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của các đồng thừa kế, bởi:

  • Phần đất có diện tích 3.091,4m², thửa đất số 27, 401, tờ bản đồ số 12, 17, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và căn nhà 03 gian, kết cấu: mái ngói, vách tường, nền gạch gắn liên với đất là di sản do cụ Nguyễn Thị R để lại.
  • Trước khi chết cụ R không có để lại di chúc đối với phần di sản này. Do đó, phần di sản này phải được phân chia theo quy định của pháp luật, cụ thể phải phân chia thành 05 phần bằng nhau cho 05 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ R bao gồm: bà Nguyễn Thị T4, bà Nguyễn Thị T5, bà Trần Thị M, bà Trần Thị D2 và bà Trần Thu P. Tuy nhiên, bà P lại cố tình khai khống “Tông chỉ”, để tự ý định đoạt toàn bộ di sản do cụ R để lại là trái với quy định của pháp luật.

Do đó, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L đã có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, giải quyết:

  • Yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK – UBND, ngày 21/09/2007 của Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, số chứng thực 1194, quyển số 03 TP/CC-SCT, về việc phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị R.
  • Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 179060, số vào sổ cấp GCN số H29260 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 25/10/2007 mang tên bà Trần Thu P.

Ông L có thiện chí chia phần đất thửa đất do cụ R để lại thành 06 kỷ phần, mỗi chi được hưởng 01 kỷ phần, riêng bà P được hưởng 02 kỷ phần nhưng do bà P không có thiện chí nên nay ông L xác định rõ yêu cầu như sau:

Do phần đất tranh chấp không đủ điều kiện tách thửa nên ông L yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất có diện tích 1.521,6m² (tổng diện tích đo đạc thực tế 1.518m², trong đó có phần chồng lấn thửa 369 là 17m², phần chồng lấn thửa 3607 là 21m2, phần chồng lấn thửa 1293 là 7,2m2, phần chồng lấn thửa 3641 là 64,3m², tổng diện tích chồng lấn là 109,5m2, diện tích thực tế còn lại là là 1.408,5m², đã trừ phần mồ mả 67,3m²) thuộc thửa đất số 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do cụ Nguyễn Thị R để lại thành 05 kỷ phần: Bà Trần Thu P; chi bà Nguyễn Thị T4 (gồm ông Nguyễn Thanh L, bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh Đại A); chi bà Nguyễn Thị T5 do ông Mã Thành N đại diện; chi bà Trần Thị M(gồm bà Lê Thanh Thanh N1, ông Lê Thanh T2); chi bà Trần Thị D2 (ông Trần Văn D đại diện), việc chia thừa kế quyền sử dụng đất giá trị bằng tiền theo biên bản định giá ngày 15/5/2024.

Ngôi nhà chính (nhà thờ) thì ông L yêu cầu chia bằng giá trị thành 05 kỷ phần như trên theo giá tại biên bản định giá ngày 15/5/2024. Đối với cây trái và tài sản của bà Trần Thu P trên phần đất tranh chấp thì ông L không có ý kiến.

Mồ mã của chi nào trên phần đất tranh chấp thì chi đó tự di dời giao cho người quản lý, sử dụng đất, không yêu cầu Tòa án xem xét.

Đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ số 12, do bà P đã chuyển nhượng cho người khác nên ông L đã có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện không yêu cầu giải quyết đối với phần đất này.

Nguyên đơn thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, sơ đồ bản vẽ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T đo vẽ, thống nhất kết quả định giá của Hội đồng định giá, không ý kiến gì khác. Theo Mảnh trích lục địa chính thì có một phần đo vượt quá diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên yêu cầu không xem xét phần này mà chừa ra, chỉ yêu cầu phần diện tích thực tế theo giấy chứng nhận được cấp. Đối với phần mồ mả đề nghị chừa ra chỉ yêu cầu phần thực tế còn lại.

- Bị đơn bà Trần Thu P trình bày:

Mẹ bà P tên Nguyễn Thị R sinh năm 1917, đã chết năm 2003. Cụ R có 03 người con là bà Trần Thị M đã chết năm 2023, bà Trần Thị D2 đã chết năm 2009 và Trần Thu P. Chồng của cụ R là cụ Trần Văn N2, sinh năm 1911, chết năm 1991. Cha của cụ R là cụ Nguyễn Văn H5 chết trước năm 1975, mẹ cụ R là cụ Lê Thị N3, chết trước năm 1975.

Khi còn sống, cụ R có 02 thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02431 QSDĐ/TA do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 08/3/2000 cho hộ Nguyễn Thị R. Mặc dù giấy chứng nhận ghi cấp cho hộ nhưng đây là tài sản cụ R. Trong hai thửa đất thì 01 phần đất bưng có diện tích 1.568m², phần đất này cụ R đã cho bà M, bà D2. Vào năm 1999, bà M, bà D2 bán cho bà P với số vàng 07 chỉ 24K, việc bán đất có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị T4. Đến năm 2007, bà P đã chuyển nhượng thửa đất này cho người khác, hiện nay không còn thửa đất này nên thửa đất này không còn là tài sản thừa kế.

Đối với phần đất gò có diện tích 1.521m² do cụ Nguyễn Thị R đứng tên. Phần đất này do cụ Trần Văn N2 và cụ Nguyễn Thị R khai phá từ trước năm 1975. Từ khi bà P sinh ra, thì bà T4, bà T5 không sinh sống với cụ R. Bà P không biết hai người này là ai mà chỉ nghe cụ R nói là con riêng của cụ R. Sau khi cụ R mất thì vào năm 2007, bà P cùng bà M, bà D2 lập văn bản phân chia di sản của cụ R để lại, giao cho bà P được toàn quyền sử dụng phần đất có diện tích 1.521m² và bà P được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất đối với phần đất này.

Nay theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà P có ý kiến như sau:

  • Đối với phần đất bưng diện tích 1.568m² do bà M, bà D2, bà T4 đã được cụ R cho và bán lại cho bà P và bà P cũng đã chuyển nhượng cho người khác nên không còn để chia.
  • Đối với phần đất gò diện tích 1.521m², thuộc thửa đất số 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã được bà M, bà D2 đồng ý cho bà P theo Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 21/9/2007 nên bà P không chia phần đất này cho con bà M, bà D2 nữa. Nếu trường hợp chia thừa kế đối phần đất của cụ R để lại thành 05 phần thì bà P được hưởng 03 phần gồm phần bà P được hưởng và 02 phần của bà M, bà D2 đã cho bà P theo Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 21/9/2007. Hai phần còn lại chia theo pháp luật và tính đến công sức giữ gìn của bà P từ ngày cụ R mất đến nay là 20%. Bà P yêu cầu nhận đất và trả trị giá bằng tiền như trình bày trên. Trên đất tranh chấp hiện có căn nhà của bà Lê Thanh Thanh N1 nên bà P đồng ý bồi thường cho bà N1 giá trị căn nhà theo giá đã được định giá, bà P được sở hữu căn nhà này. Đối với căn nhà cụ R để lại thì bà P đã sửa chữa lại, khi sửa chữa các con bà T4 có đóng góp 100.000.000 đồng để sửa chữa.

Khi đo đạc, do có nhầm lẫn nên chỉ vị trí vượt ra ngoài giấy chứng nhận được cấp nên chỉ yêu cầu xem xét diện tích đất theo giấy chứng nhận để xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh Đại A trình bày:

Thống nhất với toàn bộ ý kiến trình bày và yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mã Thành N trình bày:

Ông N là con của bà Nguyễn Thị T5, ông N thống nhất trình bày và ý kiến với nguyên đơn về quan hệ huyết thống của cụ R và tài sản do cụ R để lại, ông N yêu cầu chia tài sản thừa kế của cụ R để lại và yêu cầu nhận bằng tiền cho 05 đồng thừa kế. Riêng yêu cầu bà P cắt 20% công sức đóng góp thì ông N không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D trình bày:

Ông D là con của bà Trần Thị D2. Bà D2 có chồng là Trần Văn T6 nhưng không đăng ký kết hôn (chết năm 1972, không có giấy chứng tử). Bà D2 có 02 người con là ông Trần Văn D và bà Trần Thị H4, bà H4 (đã chết năm 2007) và có hai người con là bà Võ Thanh H2, ông Võ Thành L1.... Ông D thống nhất với trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống cụ R, tài sản của cụ R để lại và cách chia tài sản. Ông D không đồng ý với ý kiến trình và yêu cầu của bà P. Bà D2 không ký văn bản thoả thuận cho đất bà P. Việc bà P xuất trình văn bản thoả thuận có chữ ký bà D2 là giả tạo nên yêu cầu Tòa án tuyên hủy Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND, ngày 21/09/2007 của Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, số chứng thực 1194, quyển số 03 TP/CC-SCT, về việc phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị R. Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 179060, số vào sổ cấp GCN số H29260 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 25/10/2007 mang tên bà Trần Thu P. Yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất thuộc thửa đất số 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã (nay là phường) T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương do bà Nguyễn Thị R để lại thành 05 kỷ phần bằng giá trị theo biên bản định giá ngày 15/5/2024. Tài sản chia cho chi bà Trần Thị D2 thì ông D nhận. Bà H4 là mẹ ông Võ Thanh H2, ông Võ Thành L1 nhưng bà H4 đã chết năm 2007 nên các con bà H4 không nằm trong hàng thừa kế.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thanh Thanh N1, ông Lê Thanh T2 trình bày:

Bà N1, ông T2 là con bà Trần Thị M. Bà M có chồng ông Lê Văn C (chết năm 2005) và hai người con là bà Lê Thanh Thanh N1, ông Lê Thanh T2. Bà N1, ông T2 không đồng ý với yêu cầu của bà P, bà M không ký văn bản thoả thuận cho đất bà P. Việc bà P xuất trình văn bản thoả thuận có chữ ký của bà M là giả tạo nên yêu cầu Tòa án tuyên hủy Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND, ngày 21/09/2007 của Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, số chứng thực 1194, quyển số 03 TP/CC-SCT, về việc phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị R. Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 179060, số vào sổ cấp GCN số H29260 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 25/10/2007 mang tên bà Trần Thu P. Yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất thuộc thửa đất số 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã (nay là phường) T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương do bà Nguyễn Thị R để lại thành 05 kỷ phần bằng giá trị theo biên bản định giá ngày 15/5/2024 và chi bà Trần Thị M (gồm bà Lê Thanh Thanh N1, ông Lê Thanh T2) được hưởng 01 kỷ phần. Hiện trên đất tranh chấp bà N1 có xây dựng một căn nhà để ở nhưng hiện nay do tranh chấp nên bà N1 và bà P đã thỏa thuận để bà P bồi thường giá trị căn nhà của bà N1 theo mức định giá.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu V là ông Nguyễn Ngọc T1 trình bày:

Thống nhất ý kiến của ông L đối với yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu của bà P về 20% công sức đóng góp trong kỷ phần của chi bà T4 được hưởng vì bà P không ở trên phần đất tranh chấp và được hoa lợi, lợi tức từ việc cho thuê nhà trọ trên phần đất tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương trình bày:

Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND, ngày 21/09/2007 do Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, số chứng thực 1194, quyển số 03 TP/CC-SCT do ông Hà Văn P1, thời điểm này là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ký chứng thực, việc chứng thực là đúng trình tự thủ tục, trên cơ sở tờ tông chỉ do bà P nộp. Ủy ban nhân dân đã niêm yết công khai nhưng không có ai phản ánh, khiếu nại về văn bản phân chia di sản. Tuy nhiên, do Ủy ban nhân dân phường D3 trụ sở mới nên hồ sơ sổ gốc ở phường bị thất lạc, Ủy ban nhân dân phường đã xin trích lục tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T cung cấp cho Tòa án bản phô tô kèm theo ý kiến giải trình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn D1, chức vụ Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T không có ý kiến trình bày.

Các đương sự thống nhất xác định tài sản trên đất theo biên bản định giá ngày 15/5/2024, xác định tài sản trên đất gồm:

  • Giá trị quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng đất của cụ R để lại đo đạc thực tế 1.408,5m², trong đó 300m2 đất thổ cư, giá 8.000.000 đồng/m², thành tiền là 2.400.000.000 đồng; đất nông nghiệp 1.108,5m2, giá 5.000.000 đồng/m², thành tiền là 5.542.500.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất là 7.942.500.000 đồng.
  • Nhà cụ R để lại (nhà A, nhà 2 trên Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T phát hành ngày 05/01/2023) xây dựng năm 1980, năm 2022, bà P sửa chữa lại, kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, giá 3.489.000 đồng/m², tỷ lệ 30%, diện tích 110,1m² (nhà 1: 57,1m², nhà 2: 53m²), thành tiền là 115.241.670 đồng.
  • Nhà bà Lê Thanh Thanh N1 (nhà 3 trên Mảnh trích đo địa chính) kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, giá 3.489.000 đồng/m², tỷ lệ 80%, diện tích 39,4m², thành tiền là 109.973.280 đồng.
  • Nhà trọ bà P (nhà trọ 1, nhà trọ 2 trên Mảnh trích đo địa chính), kết cấu: tường xây, có gác bằng bê tông, cửa sắt, nền gạch men, đã có quyết định cưỡng chế buộc tháo dỡ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
  • Các tài sản khác còn lại trên đất gồm: nhà bà P xây dựng (nhà 5 trên Mảnh trích đo địa chính) kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, giá 3.489.000 đồng/m², tỷ lệ 40%, diện tích 61,6m², thành tiền là 85.968.960 đồng; 01 căn nhà tiền chế của bà P xây dựng diện tích 17,1m², đơn giá 2.458.000 đồng/m², tỷ lệ còn lại 80%, thành tiền là 33.625.440 đồng; 01 cây xoài, giá 896.800 đồng; 01 cây vú sữa, giá 1.130.900 đồng; 01 cây mít, giá 1.173.700 đồng; 02 bụi cau cảnh, giá 220.200 đồng.

Ngoài ra trên đất còn có 01 nhà cấp 4, đã hết niên hạn sử dụng, không định giá trị sử dụng; 01 am thờ diện tích 5,8m²; khu mộ 1 diện tích 17,6m², khu mộ 2 diện tích 49,7m².

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024, Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ vào: Các Điều 122, 123, 131, 613, 623, 650, 651, 660, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 4, 26, 27, 152 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L đối với bị đơn bà Trần Thu P về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế”.

Tuyên Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND được Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, số chứng thực 1194, quyển số 03 TP/CC-SCT được xác lập giữa bà Trần Thị M, bà Trần Thị D2 và bà Trần Thu P là vô hiệu.

Xác định quyền sử dụng đất diện tích 1.521,6m 2 ( đo đạc thực tế 1.408,5m²) thuộc thửa 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và giá trị căn nhà cấp 4, xây dựng năm 1980, sửa chữa lại, kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, diện tích 110,1m² (gồm nhà 1: 57,1m², nhà 2: 53m²), thành tiền là 115.241.670 đồng là di sản của cụ Nguyễn Thị R chết để lại. Tổng giá trị tài sản thừa kế của cụ R để lại là 8.057.741.670 đồng. Chia cho các đồng thừa kế gồm 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần được chia trị giá 1.342.956.945 đồng (bà P được hưởng 02 kỷ phần).

  • Bà Trần Thu P được toàn quyền quản lý, sử dụng sở hữu quyền sử dụng đất diện tích 1.521,6m² (đo đạc thực tế 1.408,5m²) thuộc thửa 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc phường T, thị thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H26290 ngày 25/10/2007 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M1 cấp cho bà Trần Thu P; căn nhà cấp 4, kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, diện tích 110,1m² (cụ R xây dựng năm 1980, đã được sữa chữa lại gồm: nhà 1: 57,1m², nhà 2: 53m² - nhà 1 và 2 trên Mảnh trích đo địa chính); căn nhà cấp 4 kết cấu: tường xây, nền gạch men, diện tích 39,4m² (nhà của bà Lê Thanh Thanh N1 - nhà 3 trên Mảnh trích đo địa chính) (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  • Bà Trần Thu P có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần thừa kế các chi thừa kế bà Nguyễn Thị T4 (do bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Thanh B và ông Nguyễn Thanh Đại A được hưởng), chi thừa kế bà Nguyễn Thị T5 (do ông Mã Thành N được hưởng), chi thừa kế bà Trần Thị M (do bà Lê Thanh Thanh N1 và ông Lê Thanh T2 được hưởng), chi thừa kế bà Trần Thị D2 (do ông Trần Văn D được hưởng) mỗi chi 1.342.956.945 đồng (một tỷ ba trăm bốn mươi hai triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm bốn lăm đồng).
  • Bà Trần Thu P có nghĩa vụ hoàn trả giá trị căn nhà của bà Lê Thanh Thanh N1 số tiền 109.973.280 đồng (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm tám mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đương sự có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/10/2024, bị đơn bà Trần Thu P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 15/10/2024, ông Nguyễn Thanh L, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không tính công sức quản lý, giữ gìn di sản thừa kế cho bà Trần Thu P tương ứng 01 kỷ phần thừa kế.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X cho rằng bà Trần Thu P không có công sức đóng góp, tôn tạo, giữ gìn tài sản; bà P đã được hưởng lợi từ việc cho thuê nhà nên đề nghị không tính công sức quản lý, giữ gìn di sản thừa kế cho bà Trần Thu P tương ứng 01 kỷ phần thừa kế.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thu P đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm do đưa thiếu người tham gia tố tụng, thu thập, xác minh chứng cứ chưa đầy đủ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các đương sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L, bà Trần Thu P, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X thực hiện trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Diện tích 3.091,4m², thửa đất số 27, 401, tờ bản đồ số 12, 17, tọa lạc tại xã (nay là phường) T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương có nguồn gốc của cụ Nguyễn Thị R, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02431 QSDĐ/TA do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 08/3/2000; trên đất có căn nhà xây dựng năm 1980.

Bà Trần Thu P cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02431 QSDĐ/TA do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 08/3/2000 cho hộ Nguyễn Thị R, thời điểm này, hộ bà R có: cụ R, cụ N2, chồng bà P tên Nguyễn Thành T7, các con bà P là Nguyễn Thu H6, Nguyễn Thu H7, Nguyễn Thành N4, Nguyễn Cẩm V2 nên đây là đất của hộ. Xét thấy, mặc dù UBND thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên “hộ gia đình” nhưng nguồn gốc tạo lập do cụ R sử dụng ổn định và xây cất nhà sinh sống từ những năm 1980; đến năm 2000, cụ R lập thủ tục đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đứng tên hộ. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc trường hợp nhà nước giao khoán, công nhận đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình nên việc bà P cho rằng quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình, là tài sản chung của hộ gia đình là không có căn cứ. Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, lời trình bày ban đầu của bà P cũng xác định quyền sử dụng đất diện tích 3.091,4m², thửa đất số 27, 401, là của cụ Nguyễn Thị R chết để lại. Tại Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND ngày 21/9/2007, bà P kê khai di sản là quyền sử dụng đất diện tích 3.091,4m², thửa đất số 27, 401, tờ bản đồ số 12, 17 là của cụ R.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất nêu trên là di sản do cụ Nguyễn Thị R chết để lại là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà P cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ hay cho cá nhân cụ R1; không đưa chồng, con bà P gồm ông Nguyễn Thành T7, chị Nguyễn Thu H6, chị Nguyễn Thu H7, anh Nguyễn Thành N4, chị Nguyễn Cẩm V2 vào tham gia tố tụng là có thiếu sót; từ đó đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Do có căn cứ xác định quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản của cá nhân cụ R1 như đã phân tích nên không có cơ sở chấp nhận đề nghị của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn về việc hủy án sơ thẩm.

[2.2] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì cụ Nguyễn Thị R, sinh năm 1917, chết ngày 15/07/2003 có hai đời chồng là cụ Nguyễn Văn T3 (đã chết trước cụ R, không rõ năm chết) và cụ Trần Văn N2 (đã chết năm 1991).

Cụ R và cụ T3 có 02 người con:

  1. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1938, chết ngày 02/11/2008. Bà T4 có chồng là Lý Minh H3 (đã chết năm 1998) và có 06 người con là bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Thanh B và ông Nguyễn Thanh Đại A.
  2. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1941, chết ngày 21/5/2015. Bà T5 có chồng là Mã Quốc A1 (đã chết trước bà T5, không rõ năm chết) và 01 người con là ông Mã Thành N.

Cụ R và cụ N2 có 03 người con:

  1. Bà Trần Thị M, sinh năm 1946, chết ngày 02/8/2023. Bà M có chồng là ông Lê Văn C (đã chết năm 2005) và có 02 người con là bà Lê Thanh Thanh N1 và ông Lê Thanh T2.
  2. Bà Trần Thị D2, sinh năm 1951, chết ngày 11/7/2009. Bà D2 có chồng là ông Trần Văn Ô (ông Ô chết năm 1972, không có giấy chứng tử) và 02 người con là ông Trần Văn D và bà Trần Thị H4 (bà H4 chết năm 2007).
  3. Bà Trần Thu P, sinh năm 1958.

Sau khi cụ R chết, ngày 21/9/2007, bà Trần Thị M, bà Trần Thị D2 và bà Trần Thu P thỏa thuận lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND và được Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, số chứng thực 1194, quyển số 03 TP/CC-SCT, theo đó bà P được quyền sử dụng đất diện tích 3.091,4m², thửa đất số 27, 401, tờ bản đồ số 12, 17. Ngày 25/10/2007, bà Trần Thu P được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H26290 đối với diện tích đất 1.521,6m² đối với thửa 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc xã (nay là phường) T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 12 thì bà P đã chuyển nhượng cho người khác và các đương sự thống nhất không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Việc bà Trần Thu P, bà Trần Thị M và bà Trần Thị D2 lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND để định đoạt tài sản của cụ Nguyễn Thị R chết để lại mà không có ý kiến của những người người con khác là bà Nguyễn Thị T4 và Nguyễn Thị T5 là trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế khác nên thỏa thuận này vô hiệu.

Trên cơ sở Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND, Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H26290 đối với diện tích đất 1.521,6m² đối với thửa 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc xã (nay là phường) T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cho bà Trần Thu P. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn văn bản thỏa thuận trái pháp luật nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có giá trị pháp lý.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND và chia di sản thừa kế do cụ R chết để lại theo pháp luật cho các con cụ R là bà Nguyễn Thị T4, bà Nguyễn Thị T5, bà Trần Thị M, bà Trần Thị D2 và bà Trần Thu P là có căn cứ.

[2.3] Quyền sử dụng đất của cụ R để lại đo đạc thực tế 1.408,5m², trong đó 300m² đất thổ cư, đất nông nghiệp 1.108,5m2, giá trị quyền sử dụng đất là 7.942.500.000 đồng. Giá trị tài sản của cụ R để lại gồm căn nhà cấp 4, xây dựng năm 1980. Năm 2022, bà P sửa chữa lại, kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, diện tích 110,1m² (gồm nhà 1: 57,1m², nhà 2: 53m²), thành tiền là 115.241.670 đồng. Tổng giá trị tài sản của cụ R để lại là 8.057.741.670 đồng.

Cụ Nguyễn Thị R chết không có di chúc nên tài sản của cụ R được chia theo pháp luật cho chi thừa kế bà Nguyễn Thị T4 (do bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Thanh B và ông Nguyễn Thanh Đại A được hưởng), chi thừa kế bà Nguyễn Thị T5 (ông Mã Thành N được hưởng), chi thừa kế bà Trần Thị M (bà Lê Thanh Thanh N1 và ông Lê Thanh T2 được hưởng), chi thừa kế bà Trần Thị D2 (do ông Trần Văn D được hưởng) và bà Trần Thu P. Trong đó, bà P là người trực tiếp sinh sống với cụ R trên đất, có công sức đóng góp trong việc tôn tạo, giữ gìn tài sản nên Tòa án cấp sơ thẩm tính công sức đóng góp của bà P bằng một kỷ phần; chia tài sản của cụ R để lại thành 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần được chia giá trị là 1.342.956.945 đồng, bà P được hưởng 02 kỷ phần, 04 kỷ phần còn lại chia cho các chi thừa kế là phù hợp, đảm bảo được quyền lợi chính đáng của các bên đương sự.

Ông Nguyễn Thanh L, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X kháng cáo cho rằng bà P không có công sức giữ gìn, quản lý di sản, đã được hưởng lợi từ di sản do cụ R để lại nên không đồng ý tính công sức cho bà P là không có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm, giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L, bà Trần Thu P, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Thanh L, bà Trần Thu P, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X phải chịu. Tuy nhiên, bà P là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L, bà Trần Thu P, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Áp dụng Điều 122, 123, 131, 613, 623, 650, 651, 660, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 4, 26, 27, 152 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L đối với bị đơn bà Trần Thu P về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế”.

Tuyên Văn bản phân chia tài sản thừa kế số 1194/VBPCTSTK-UBND được Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, số chứng thực 1194, quyển số 03 TP/CC-SCT được xác lập giữa bà Trần Thị M, bà Trần Thị D2 và bà Trần Thu P là vô hiệu.

Xác định quyền sử dụng đất diện tích 1.521,6m 2 ( đo đạc thực tế 1.408,5m²) thuộc thửa 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và giá trị căn nhà cấp 4, xây dựng năm 1980, sửa chữa lại, kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, diện tích 110,1m² (gồm nhà 1: 57,1m², nhà 2: 53m²), thành tiền là 115.241.670 đồng là di sản của cụ Nguyễn Thị R chết để lại. Tổng giá trị tài sản thừa kế của cụ R để lại là 8.057.741.670 đồng. Chia cho các đồng thừa kế gồm 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần được chia trị giá 1.342.956.945 đồng (bà P được hưởng 02 kỷ phần).

  • Bà Trần Thu P được toàn quyền quản lý, sử dụng sở hữu quyền sử dụng đất diện tích 1.521,6m² (đo đạc thực tế 1.408,5m²) thuộc thửa 401, tờ bản đồ số 17, tọa lạc phường T, thị thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H26290 ngày 25/10/2007 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M1 cấp cho bà Trần Thu P; căn nhà cấp 4, kết cấu: nhà cấp 4, tường xây, nền gạch men, diện tích 110,1m² (cụ R xây dựng năm 1980, đã được sữa chữa lại gồm: nhà 1: 57,1m², nhà 2: 53m² - nhà 1 và 2 trên Mảnh trích đo địa chính); căn nhà cấp 4 kết cấu: tường xây, nền gạch men, diện tích 39,4m² (nhà của bà Lê Thanh Thanh N1 - nhà 3 trên Mảnh trích đo địa chính) (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  • Bà Trần Thu P có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần thừa kế các chi thừa kế bà Nguyễn Thị T4 (do bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Thanh B và ông Nguyễn Thanh Đại A được hưởng), chi thừa kế bà Nguyễn Thị T5 (do ông Mã Thành N được hưởng), chi thừa kế bà Trần Thị M (do bà Lê Thanh Thanh N1 và ông Lê Thanh T2 được hưởng), chi thừa kế bà Trần Thị D2 (do ông Trần Văn D được hưởng) mỗi chi 1.342.956.945 đồng (một tỷ ba trăm bốn mươi hai triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm bốn lăm đồng).
  • Bà Trần Thu P có nghĩa vụ hoàn trả giá trị căn nhà của bà Lê Thanh Thanh N1 số tiền 109.973.280 đồng (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm tám mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đương sự có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2/. Về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng, được thực hiện theo quyết định của bản án sơ thẩm.

3/. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Trần Thu P được miễn.

Ông Nguyễn Thanh L, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X, mỗi người phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003536, 0003535, 0003534 cùng ngày 30/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

4/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương;
  • - Đương sự (14);
  • - Lưu VP(5), HS(2).26b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản phân chia di sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 288/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản phân chia di sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L, bà Trần Thu P, bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị X. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger