Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 228/2025/DS-PT

Ngày: 19 - 06 - 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn A Đam;

Ông Ninh Quang Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Các ngày 22 tháng 05 và ngày 19 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2025/DSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 133/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 04 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm: 1964 (có mặt).

Cư trú tại: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn:

Ông Trần Văn M, sinh năm: 1973 (có mặt).

Bà Bùi Thị C, sinh năm: 1973 (có mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Ông Trần Văn S – Là Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ông có một phần đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau với tổng diện tích 5.000m² đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C000782 vào năm 1995. Đến năm 2020 ông có tặng cho con gái và em trai một phần đất diện tích 1.322m², phần còn lại được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 3.678m². Khi ông thực hiện việc đo đạc tách thửa thì phát hiện ra phần đất ông được cha ông là ông Trần Văn M1 tặng cho ông nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị ông Trần Văn M đăng ký, kê khai và ông M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 2.221m². Tại đơn khởi kiện ông yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận phần đất diện 2.221m² thuộc thửa số 282, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông đồng thời yêu cầu tuyên hủy Giấy chứng nhận qyền sử dụng đất đã cấp cho ông M. Tuy nhiên tại biên bản làm việc ngày 07/01/2025 và tại phiên tòa ông thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông M trả lại phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 1.495,8m² tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau mà ông M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho ông, ngoài ra ông không còn yêu cầu nào khác. Ông đồng ý theo Bản vẽ hiện trạng ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH MTV T và kết quả định giá theo chứng thư thẩm định giá số 169/2023/CT-TĐG ngày 26/5/2023 của Công ty cổ phần T1 về giá trị đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất.

Tại các biên bản hòa giải, biên bản làm việc, đơn phản tố và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn M trình bày: Trước đây cha của ông và ông S là ông Trần Văn M1 có cho ông S 03 công đất tầm 03 mét diện tích 5.000m². Đồng thời cha ông cũng cho ông diện tích 03 công và ông nhận chuyển nhượng thêm từ cha ông 01 công 02 góc 03 với tổng diện tích là 8.860m². Phần đất trên ông đã đăng ký kê khai vào năm 1999 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 2001. Đến năm 2004 ông có chuyển nhượng cho ông Dương Hoàng N một phần đất diện tích 6.639m², phần còn lại 2.221m² ông đã được điều chỉnh lại và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào khoảng năm 2004 do gia đình ông đi làm ăn xa nên Sậm tự ý canh tác trên phần đất trên. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông S trả lại đất thì ông S không đồng ý. Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông S thì ông có yêu cầu phản tố buộc ông S trả lại cho ông phần đất diện tích 2.221m². Tại phiên tòa ông thay đổi một phần yêu cầu phản tố, yêu cầu ông S trả lại phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 1.495,8m² tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau mà ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho ông, ngoài ra ông không còn yêu cầu nào khác. Ông đồng ý theo Bản vẽ hiện trạng ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH MTV T và kết quả định giá theo chứng thư thẩm định giá số 169/2023/CT-TĐG ngày 26/5/2023 của Công ty cổ phần T1 về giá trị đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất.

Tại các biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị C trình bày: Bà thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu phản tố của ông M, bà không có ý kiến trình bày bổ sung thêm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2025/DSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S đối với ông Trần Văn M, bà Bùi Thị C về việc buộc ông Trần Văn M, bà Bùi Thị C trả lại cho ông Trần Văn S phần đất tranh chấp có diện tích là 1.495,8m², thể hiện theo các điểm M1M2M3M4 theo bản vẻ hiện trạng ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH MTV T, phần đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn M đối với ông Trần Văn S về việc buộc ông Trần Văn S trả lại cho ông Trần Văn M phần đất tranh chấp có diện tích là 1.495,8m², thể hiện theo các điểm M1M2M3M4 theo bản vẻ hiện trạng ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH MTV T, phần đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 30/02/2025 ông Trần Văn S kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng hủy giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 2.221m², số vào sổ 37441, do UBND huyện C cấp ngày 25/8/2004 tại thửa số 282, thờ bản đồ số 07, qua đo đạc thực tế có diện tích 1.495,8m² đất NTS, thuộc thửa đất số 237, tờ bản đồ số 1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Trần Văn S trình bày: Trước đến nay ông M không canh tác trên phần đất tranh chấp, yêu cầu sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Ông Trần Văn M trình bày: Trước đây tôi làm vuông cạnh phần đất tranh chấp, tôi có chừa ra 1 phần đất hiện đang tranh chấp. Sau đó tôi mới chuyển nhượng cho ông N phần đất vuông, còn chừa lại phần đất tranh chấp. Yêu cầu không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Trần Văn S, giữ nguyên. Bản án sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét đơn kháng cáo của ông Trần Văn S trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn S, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Tại Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Dương Hoàng N được UBND xã Đ xác nhận vào ngày 05/7/2004, thể hiện phần đất của ông Trần Văn M có giấy chứng nhận QSDĐ do UBND huyện C cấp ngày 29/01/2001, diện tích 8860m², diện tích đất chuyển nhượng 6639m² (bút lục 103).

[2.2] Theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 14/7/2004 (trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Dương Hoàng N), thể hiện thửa đất của ông Trần Văn M (số thửa 282), sau khi tách 6639m² đất chuyển nhượng cho ông N (thửa đất của ông N số 859), thì thửa 282 vẫn còn (bút lục 96).

[2.3] Tại Công văn số 420/CNVPĐKĐĐ ngày 27/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, đã xác định: “...Ông Trần Văn M2 được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu có số phát hành S 684437 ngày 29/01/2001 với diện tích 8860,0m² đất trồng lúa, thuộc thửa đất số 282, tờ bản đồ số 7 (BĐ 299)... Đến năm 2004, ông Trần Văn M2 chuyển quyền một phần quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Dương Hoàng N với diện tích 6639,0m² đất trồng lúa (thuộc thửa 859, tờ bản đồ số 7, BĐ 299), phần diện tích còn lại là 2221,0m² đất trồng lúa ông Trần Văn M2 được cấp lại Giấy chứng nhận số Đ 919752 ngày 25/8/2004” (bút lục 79).

[2.4] Đối với ông S có đăng ký kê khai đối với phần đất 5000m² (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không bao gồm phần đất tranh chấp). Ông S cho rằng khi khi kê khai đăng ký vào năm 1995 thì thời điểm này còn là đất trồng lúa, chưa chuyển dịch nuôi tôm, Luật đất đai vào thời điểm này quy định phần đất là mặt nước, lung thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó ông không được đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất tranh chấp. Tuy nhiên, thực tế ông M đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất lần đầu có số phát hành S684437 ngày 29/01/2001 với diện tích 8.860m² (bao gồm phần đất tranh chấp), với mục đích sử dụng là đất trồng lúa. Do đó, lời trình bày của ông S về việc không được đăng ký phần đất tranh chấp là không có căn cứ.

Mặt khác, đến năm 2020 ông S có tặng cho con gái và em trai một phần đất diện tích 1322m², phần còn lại ông S được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 3678m², tuy nhiên ông S cũng không đề cập gì đến việc đăng ký phần đất tranh chấp.

[3] Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông M là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[4] Về Chi phí tố tụng và án phí dân sự:

- Chi phí tố tụng, ông S phải chịu toàn bộ (đã nộp xong).

- Án phí sơ thẩm: Ông S là người cao tuổi nên được miễn; ông M và bà C không phải chịu.

- Án phí phúc thẩm: Ông S là người cao tuổi nên được miễn.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn S.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S đối với ông Trần Văn M, bà Bùi Thị C về việc buộc ông Trần Văn M, bà Bùi Thị C trả lại cho ông Trần Văn S phần đất tranh chấp có diện tích là 1.495,8m², thể hiện theo các điểm M1M2M3M4 theo bản vẻ hiện trạng ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH MTV T, phần đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

    Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn M đối với ông Trần Văn S về việc buộc ông Trần Văn S trả lại cho ông Trần Văn M phần đất tranh chấp có diện tích là 1.495,8m², thể hiện theo các điểm M1M2M3M4 theo bản vẻ hiện trạng ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH MTV T, phần đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

    (Kèm theo Bản án là Bản vẽ hiện trạng ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH MTV T).

  2. Chi phí tố tụng: Ông Trần Văn S phải chịu toàn bộ (đã nộp xong).
  3. Án phí: Ông Trần Văn S được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm. Ông Trần Văn M và bà Bùi Thị C không phải chịu.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Cao Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn A Đam

Ninh Quang Thế

Đỗ Cao Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 228/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông S kiện ông M yêu cầu ông M trả lại phần diện tích đất tranh chấp. Ông S cho rằng phần đất tranh chấp là của cha ông (ông Muôn) cho ông nhưng ông M lại đi đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger