Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-------------------------

Bản án số: 228/2024/HSST

Ngày: 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG.

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy
  • - Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuỷ
  • Bà Nguyễn Thị Hương Sen
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 178 /2024/TLST-HS ngày 10/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Á ( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 04 tháng 9 năm 1959; Tại: Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Số A, tổ C, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số nhà B, tổ D Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Con ông: Nguyễn Ngọc C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết ); Có vợ là Vũ Thị H1, sinh năm 1960 và có 03 con lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1984; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

*Nhân thân:

Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2016 ngày 12/07/2016, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/04/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2-Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Ông Phạm Đình K, sinh năm 1955.

Địa chỉ: Số nhà B, ngõ H, tổ A M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1960. Vắng mặt.

1

Địa chỉ: Số nhà B Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Phạm Đình K, sinh năm 1955, trú tại: tổ A phường V, quận H, TP . Hà Nội và Nguyễn Ngọc Á, SN 1959, trú tại: tổ B, phường V, quân H, TP . Hà Nội có quen biết nhau, họ hàng liên quan đến gia đình bên vợ (vợ ông K và Vợ Ál có quan hệ họ hàng). Khoảng tháng 12/2012, ông Phạm Đình K sang nhà Nguyễn Ngọc Á chơi, ông K có kể chuyện với Á về việc con trai là Phạm Đình K1, SN 1993, trú tại: tổ A phường V, quận H, TP . Hà Nội đã học hết lớp 12 nhưng không học tiếp mà cũng chưa có việc làm. Do cần tiền chi tiêu, Á nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông K, mặc dù không có quan hệ quen biết với ai làm trong ngành Công an nhưng Á nói với ông K: hay cho nó đi nghĩa vụ Công an và Á giới thiệu có người anh làm Phó trưởng Công an huyện T, có suất đi nghĩa vụ Công an. Thấy Á nói vậy, lại có quan hệ họ hàng nên ông K tin tưởng và hỏi lại là “nếu đi nghĩa vụ Công an như vậy thì sẽ như thế nào”, Á nói “đi nghĩa vụ ba năm sau đó xin đi học Trung cấp để ở lại ngành Công an và muốn được như vậy thì hết số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), nếu nhất trí thì chuẩn bị tiền để Á xin cho”, ông K đồng ý. Lúc này, ông K nói nhà không có tiền để xin thì Á gợi ý “bán đất ruộng đi mà lo cho con”, Á sẽ giới thiệu người mua cho, ông K đồng ý. Sau đó, Á đã giới thiệu người mua đất nông nghiệp cho ông K và ông K đã bán diện tích 180m² đất nông nghiệp của gia đình ông K lấy số tiền 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng). Sau khi bán đất có tiền, ông K đã đưa tiền cho Á để lo chạy việc cho con trai mình, cụ thể: Lần thứ nhất ông K đưa cho ông Á số tiền 80.000.000 đồng khi giao tiền hai bên không lập giấy tờ (ông K và Á không nhớ cụ thể ngày tháng) khoảng 01 tuần sau đến ngày 08/01/2013, ông K đưa tiếp cho Á số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng), tổng số tiền ông K đã đưa cho Á là 200.000.000 đồng để Á xin cho con ông K đi nghĩa vụ Công an, nhận tiền xong Á hỏi vay thêm ông K số tiền 30.000.000 đồng, ông K đồng ý và đưa cho Á vay số tiền 30.000.000 đồng, nhận tiền xong Á viết cho ông K một giấy nhận biên nhận viết tay, nội dung: “Ánh nhận của ông K số tiền 200.000.000 đồng với cam kết lo cho Phạm Đình K1 con trai ông K vào Công an nghĩa vụ đợt 1 năm 2013 (tức tháng 3/2013) và sau ba năm nghĩa vụ được ở lại chuyển sang đi học Trung cấp Công an (Số tiền ông K có được là do bán đất nông nghiệp nên nếu không lo được thì Á có trách nhiệm trả lại ông K 140m² đất nông nghiệp tại HTX V” và ông K đã đưa cho Á 01 bộ hồ sơ cá nhân của con trai là Phạm Đình K1. Ngoài ra, hai bên còn thỏa thuận miệng là nếu đợt 1 năm 2013 không được thì có thể chờ đến đợt 2 năm 2013 (tức tháng 7/2013). Sau khi nhận tiền và hồ sơ của ông K, Á không liên hệ với ai, không chuyển hồ sơ cho ai và không đưa tiền cho ai, toàn bộ số tiền nhận của ông K, Á đã sử dụng chi tiêu hết. Gia đình ông K chờ

2

đến tháng 3/2014 vẫn không thấy có thông báo con ông K được đi nghĩa vụ Công an, ông K có hỏi thì Á bảo chờ đến tháng 7/2014 nhưng qua tháng 7/2014 cũng không thấy có kết quả nên ông K đến gặp Á để đòi lại tiền. Sau nhiều lần đòi tiền Á không trả, đến ngày 14/8/2014, Á trả cho ông K số tiền 25.000.000 đồng (là tiền Á đã vay của ông K), còn lại 205.000.000 đồng Á chưa trả cho ông K. Ông K tiếp tục đòi tiền thì Á khất lần và nói chưa thu xếp được.

Đến cuối tháng 8/2014, Á thỏa thuận với ông K về việc ông K đứng lên làm thủ tục vay tiền ngân hàng V số tiền Á còn nợ và vay thêm giúp Á số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), hàng tháng Á sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền vay với ngân hàng V. Sau đó ông K đã dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà ông K đang ở tại Số B, ngõ A, đường A, phường V, quận H thế chấp vào Ngân hàng V1 (V) để vay số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và ông K và vợ là bà Nguyễn Thị T có ký ủy nhiệm chi sang tài khoản bên thứ ba là tài khoản của vợ Á là bà Vũ Thị H1 số tiền 300 triệu đồng này. Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền thì ngày 20/10/2014, Á chỉ đưa cho ông K số tiền 100 triệu đồng, không đưa trả hết số tiền cho ông K và nói vài ngày nữa sẽ đưa nốt, nhưng sau đó cũng không đưa thêm cho ông K. Thời gian sau đó ông K vẫn thấy tin nhắn báo khoản vay có giảm đi. Đến năm 2016, ông K tiếp tục đòi tiền còn thiếu thì bà H1 là vợ ông Á tiếp tục trả cho ông K được số tiền 50 triệu đồng. Đến cuối năm 2018 ông K nhận được thông báo của ngân hàng V về việc khoản vay ông K đứng tên để vay tiền cho Á đã thành nợ xấu (do Á không đóng tiền hàng tháng nữa) và ngân hàng sẽ thực hiện thủ tục phát mại.

Ngày 27/11/2018, ông K có đơn trình báo gửi Công an quận H, thấy vậy nên Á đã trả thêm cho ông K số tiền 25.000.000 đồng. Thời gian này gia đình ông K cũng phải tự bỏ tiền ra để trả cho ngân hàng V với tổng số tiền là khoảng 480.000.000 đồng (theo lời khai của ông Phạm Đình K).

Đến nay Á trả lại cho ông K số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) là tiền Á nhận từ ông K để lo việc cho con ông K.

*Vật chứng của vụ án đã thu giữ: Thu giữ 01 giấy nhận tiền ngày 08/01/2013 giữa Nguyễn Ngọc Á và Phạm Đình K, do ông Phạm Đình K giao nộp.

Ngày 12/9/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định V2, để giám định chữ ký, chữ viết đối với 01 “GIẤY NHẬN TIỀN” đề ngày 08/01/2013(ký hiệu A). Bản tường trình Nguyễn Ngọc Á (ký hiệu M1). Bản thu mẫu chữ ký phục vụ giám định ngày 21/01/2019 (ký hiệu M2). Tại kết luận giám định số 5446/C09-P5 ngày 18/10/2019 của V2-Bộ C1, kết luận: “Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Nguyễn Ngọc Á, trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người viết, ký ra” (BL 33).

Đối với số tiền 300 triệu đồng mà Á và ông K thỏa thuận thế chấp bằng tài sản là nhà đất của ông K tại Ngân hàng V. Á và ông K thỏa thuận Á sẽ trả

3

cho ông K 200 triệu đồng, còn tiền vay ngân hàng Á có trách nhiệm chi trả, nhưng Á chỉ trả cho ông K 100 triệu đồng vào năm 2014. Thời gian đầu Á đã trả tiền ngân hàng V theo thỏa thuận, nhưng sau đó do không có nguồn thu nhập ổn định nên Á không tiếp tục trả tiền ngân hàng V được dẫn đến nợ xấu, ông K đã phải trả tiền, tất toán khoản vay với ngân hàng. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa Á và Ông K về việc vay tiền Ngân hàng là tự nguyện, không trái pháp luật, ông K không yêu cầu giải quyết. Nên không xem xét trong vụ án nảy.

Trước Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc Á đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án(BL 101-114).

Tại Cáo trạng số:175/CT-VKS-HĐ ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Ánh về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và Viện kiểm sát truy tố bị cáo như vậy là đúng người, đúng tội, không bị oan sai.

Bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị Nguyễn Ngọc Á từ 4 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Đình K không yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc Á bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết

4

định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc Á đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

Do cần tiền chi tiêu cá nhân, khoảng đầu tháng 01/2013, tại : Số A, tổ C V, quận H, thành phố Hà Nội. Nguyễn Ngọc Á đã có hành vi gian dối chiếm đoạt của ông Phạm Đình K số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) với lý do để xin cho con ông K là Phạm Đình K1 vào Công an nghĩa vụ. Sau khi nhận tiền của ông Phạm Đình K và hồ sơ của Phạm Đình K1, Á không đưa cho ai và cũng không nhờ ai, toàn bộ số tiền trên Á sử dụng vào mục đích tiêu sài cá nhân hết . Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Á đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Á về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải có mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với số tiền 300 triệu đồng mà Á và ông K thỏa thuận thế chấp bằng tài sản là nhà đất của ông K tại Ngân hàng V. Á và ông K thỏa thuận Á sẽ trả cho ông K 200 triệu đồng, còn tiền vay ngân hàng Á có trách nhiệm chi trả, nhưng Á chỉ trả cho ông K 100 triệu đồng vào năm 2014. Thời gian đầu Á đã trả tiền ngân hàng V theo thỏa thuận, nhưng sau đó do không có nguồn thu nhập ổn định nên Á không tiếp tục trả tiền ngân hàng V được dẫn đến nợ xấu, ông K đã phải trả tiền, tất toán khoản vay với ngân hàng. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa Á và Ông K về việc vay tiền Ngân hàng là tự nguyện, không trái pháp luật, ông K không yêu cầu giải quyết. Nên không xem xét trong vụ án nảy.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết

5

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Phạm Đình K không yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc Á bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sựh năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017..

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Ngọc Á phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc Á 04 ( bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.

2. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Á phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Công an quận Hà Đông;
  • - THADS quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Trại tạm giam số 2;
  • - Lưu HS, VT.

TM Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Thủy

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2024/HSST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 228/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngọc Á
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger