|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 228/2024/HS-ST Ngày: 23 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và bà Đỗ Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thái Hảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 197/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2024/QĐXXST-HS ngày 24/7/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị L sinh năm 1976 tại Đồng Tháp; HKTT: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); Chồng: Đỗ Văn H, sinh năm 1973 (đã chết) và có 01 con sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Tô Thị X sinh năm 1975 tại Bạc Liêu; HKTT: ấp C, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Văn T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1951; Chồng: Danh Văn L1, sinh năm 1968 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Lê Thị Hồng N sinh năm 1994 tại Cà Mau; HKTT: ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Ú (đã chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm 1974; Chồng: Hồ Văn L2, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Võ Trọng Hữu sinh năm 1992 tại An Giang; HKTT: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Minh H1, sinh năm 1962 và con bà Phạm Thị P (đã chết); Vợ: Lê Thị Mỹ H2, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Nguyễn Thị Ba sinh năm 1972 tại Kiên Giang; HKTT: ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và con bà Lê Thị N1 (đã chết); Chồng: Trần Văn H3, sinh năm 1969 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Lê Văn S sinh năm 1989 tại An Giang; HKTT: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: không rõ và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; Vợ: Thạch Thị S1, sinh năm 1988 và có 02 con cùng sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Hồ Thị B1 sinh năm 1964 tại Hậu Giang; HKTT: ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn Đ2 (đã chết) và bà Trương Thị N2 (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn N3 (đã chết) và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 30/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 21/3/2024, Nguyễn Thị B2 và Hồ Thị B1 đến căn nhà không số của Nguyễn Thị L thuê tại tổ B, ấp S, xã B, huyện T, Đồng Nai chơi (Lên đi làm không khóa cửa nhà). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Lê Thị Hồng N và Tô Thị X đến nhà L chơi. Sau đó, Ba, B1, N và X rủ nhau và sử dụng bộ bài có sẵn trong nhà L để đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Binh sáu lá” ăn thua bằng tiền.
Quá trình các đối tượng đánh bạc có thêm Lê Văn S, Võ Trọng H4 và 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến tham gia đánh bạc cùng. Đến khoảng gần 15 giờ cùng ngày, L đi làm về tới nhà thì thấy các đối tượng đang đánh bạc, L đến ngồi bên chiếu bạc xem các đối tượng đánh bạc và lấy 350.000 đồng tiền xâu cất giữ bên người. Đến 15 giờ 20 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị B2, Hồ Thị B1, Lê Thị Hồng N, Tô Thị X, Lê Văn S và Võ Trọng H4 (riêng 02 đối tượng chưa rõ nhân thân, lai lịch đã đi về trước đó) và thu giữ tang vật gồm: số tiền 3.400.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 5.700.000 đồng trên người các đối tượng, 02 điện thoại di động các loại, 01 bộ bài tây đã qua sử dụng và 02 bộ bài tây chưa sử dụng.
Các đối tượng đánh bạc với cách thức như sau: Nguyễn Thị B2 đánh bạc với vai trò người làm cái, trước mỗi ván bạc, mỗi tụ bạc đặt cược tiền trên chiếu bạc, người làm cái chia cho mỗi tụ 06 lá bài. Từ bài được chia, mỗi tụ xếp bài thành 02 chi, mỗi chi 03 lá. Xếp bài xong, các tụ so bài với tụ làm cái (so điểm theo chi, chi có điểm cao nhất là 9 điểm, thấp điểm nhất là 0 điểm) bài bên nào thắng cả 02 chi, hoặc thắng 01 chi và hòa 01 chi thì là thắng được số tiền đặt cược trên chiếu bạc. Trường hợp mỗi bên thắng được 01 chi thì hai bên hòa nhau. Mỗi ván bạc, mỗi tụ đặt cược từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Cứ khoảng từ 03 đến 06 ván bạc, người làm cái thắng bạc sẽ để ra 50.000 đồng tiền xâu đặt cạnh chiếu bạc.
Hành vi của các bị cáo đã thực hiện như sau:
- Nguyễn Thị L: Từ cuối tháng 02/2024, L bắt đầu cho các con bạc đến nhà đánh bạc để thu tiền xâu. Tiền xâu thu được, L dùng để mua bộ bài tây và nước uống cho các đối tượng đánh bạc sử dụng, phần tiền xâu còn lại thì L sử dụng. Vào ngày 21/3/2024, các con bạc tự đến nhà L rồi đánh bạc với nhau (khi đến nhà thì L đi làm không có mặt ở nhà). Khi bị bắt, L bị thu giữ số tiền 3.000.000 đồng trên người, bao gồm 350.000 đồng tiền xâu và 2.650.000 đồng là tiền của L không sử dụng để đánh bạc. Đối với những lần đánh bạc trước đó L đã sử dụng tiền xâu thu được để mua bài và nước uống cho các đối tượng đánh bạc.
- Tô Thị X sử dụng số tiền 550.000 đồng để đánh bạc, X tham gia đánh bạc nhiều ván. Khi bị bắt, X đánh bạc thua 350.000 đồng và bị thu giữ 200.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone.
- Lê Thị Hồng N sử dụng 3.800.000 đồng để đánh bạc, N tham gia đánh bạc nhiều ván. Khi bị bắt, N đánh bạc thua 1.000.000 đồng và bị thu giữ 200.000 đồng trên chiếu bạc và 2.600.000 đồng trên người.
- Võ Trọng H4 sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, H4 tham gia đánh bạc nhiều ván. Khi bị bắt, H4 đánh bạc thua 300.000 đồng và bị thu giữ 200.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 100.000 đồng trên người và 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
- Nguyễn Thị B2 sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, Ba tham gia đánh bạc nhiều ván, làm cái. Khi bị bắt, Ba đánh bạc thua 400.000 đồng và bị thu giữ 200.000 đồng trên chiếu bạc.
- Lê Văn S sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, Sớt tham gia đánh bạc nhiều ván. Khi bị bắt, S đánh bạc thắng 400.000 đồng và bị thu giữ 1.000.000 đồng trên chiếu bạc.
- Hồ Thị B1 sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc, B1 tham gia đánh bạc nhiều ván. Khi bị bắt, B1 đánh bạc thắng 400.000 đồng và bị thu giữ 1.600.000 đồng trên chiếu bạc.
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.350.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone của Tô Thị X, 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Võ Trọng H4 và số tiền 2.650.000 đồng của Nguyễn Thị L. Do các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các bị cáo.
Đối với 02 đối tượng tham gia đánh bạc (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 198/CT-VKS-TB ngày 18 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố các bị cáo Nguyễn Thị L, Tô Thị X, Lê Thị Hồng N, Võ Trọng H4, Nguyễn Thị B2, Lê Văn S, Hồ Thị B1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
-
Về hình phạt:
Xử phạt các bị cáo:
- - Nguyễn Thị L từ 06 đến 08 tháng tù.
- - Tô Thị X, Lê Thị Hồng N, Võ Trọng H4, Nguyễn Thị B2, Lê Văn S, Hồ Thị B1 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công số tiền 6.450.000 đồng; Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tây đã qua sử dụng và 02 bộ bài tây chưa sử dụng.
- Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 21/3/2024, tại nhà thuê của Nguyễn Thị L thuộc tổ B, ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Thị L đã cho các bị cáo Tô Thị X, Lê Thị Hồng N, Võ Trọng H4, Nguyễn Thị B2, Lê Văn S, Hồ Thị B1 và 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đánh bạc trái phép và thu tiền xâu là 350.000 đồng, các bị cáo đánh bạc với hình thức đánh bài “Binh sáu lá” được thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 7.350.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ tổng số tiền sử dụng để đánh bạc trên chiếu bạc và trong người các bị cáo là 6.450.000 đồng (sáu triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) và tang vật. Vì vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị L, Tô Thị X, Lê Thị Hồng N, Võ Trọng H4, Nguyễn Thị B2, Lê Văn S, Hồ Thị B1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- [2] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đánh bạc là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên bị pháp luật nghiêm cấm, các bị cáo biết rõ nhưng vì muốn tư lợi và nhằm mục đích tước đoạt tiền bạc của nhau, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng về an ninh trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm song ở mức độ giản đơn; Bị cáo Nguyễn Thị L là người chuẩn bị công cụ phạm tội và cho các bị cáo khác sử dụng nhà thuê của bị cáo L để đánh bạc trái phép và thu tiền xâu nên bị cáo L có vai trò cao hơn các bị cáo khác trong vụ án.
- [3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
-
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bộ bài tây đã qua sử dụng và 02 bộ bài tây chưa sử dụng các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với số tiền 6.450.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [5] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- [6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L, Tô Thị X, Lê Thị Hồng N, Võ Trọng H4, Nguyễn Thị B2, Lê Văn S, Hồ Thị B1 phạm tội “Đánh bạc”.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Tô Thị X 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Võ Trọng H4 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn S 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Hồ Thị B1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
-
Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.450.000 đồng (sáu triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003614 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây đã qua sử dụng và 02 bộ bài tây chưa sử dụng.
- (Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/6/2024).
- Căn cứ vào điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị L, Tô Thị X, Lê Thị Hồng N, Võ Trọng H4, Nguyễn Thị B2, Lê Văn S, Hồ Thị B1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Thị Bích Liễu |
Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 228/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L và đồng phạm
