|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 228/2024/HS-ST
Ngày 21 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thôn; ông Lò Văn Viễn
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 235/2024/HSST ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 1982, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La;
Nơi cư trú: Bản Phòng S, xã Nà Ngh, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Lò Đức Thiện và bà Tòng Thị Pao; bị có vợ là Nguyễn Thị Sen (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân. Ngày 20/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2024 cho đến nay; có mặt.
* Bị hại: Anh Tòng Văn D, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố h, thị trấn Sông M, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 ngày 15/5/2024 Công an thị trấn Sông Mã tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của anh Tòng Văn D, sinh năm 1977, nơi cư trú Tổ dân phố 2, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã với nội dung: Hồi 13 giờ 35 phút ngày 15/5/2024 anh D dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển kiểm soát 26B2-585.05 trên vỉa hè trước cửa nhà của bà Lò Thị Hưng thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Sông Mã để đi làm nhưng không rút chìa khóa điện. Đến 17 giờ cùng ngày, anh D đến lấy xe thì phát hiện chiếc xe đã bị mất trộm nên đến Công an thị trấn Sông Mã trình báo. Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Công an thị trấn Sông Mã đã tiến hành xác minh, kiểm tra camera an ninh xung quanh khu vực nơi xảy ra sự việc và rà soát đối tượng. Đến 14 giờ 30 phút ngày 16/5/2024 Lò Văn T, sinh năm 1982, nơi cư trú bản Phòng S, xã Nà Ngh, huyện Sông Mã đến Công an thị trấn Sông Mã đầu thú về hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô, đồng thời giao nộp chiếc xe mô tô cho Công an thị trấn Sông Mã. Công an thị trấn Sông Mã đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú.
Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn T khai nhận: Lò Văn T sử dụng ma túy từ năm 2009. Khoảng 13 giờ ngày 15/5/2024 T đi bộ từ nhà ở bản Phòng S, xã Nà Ngh đến tổ dân phố 2, thị trấn Sông Mã, cùng huyện Sông Mã để đi chơi. Đến tổ dân phố 2, đường đi lên khu dân cư bản Địa, T nhìn thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Sirius màu trắng, vàng, đen biển kiểm soát 26B2-585.05 đang để ở vỉa hè không có người trông coi, trên xe đang cắm chìa khóa tại ổ khóa điện. Do nghiện ma túy nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe để đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Quan sát xung quanh không có người trông coi, T đã nhanh chóng tiến lại gần ngồi lên xe nổ máy điều khiển xe đi về hướng thành phố Sơn La. Đến khu vực bản Quyết Tiến, xã Nà Ngh, T dừng xe lại tháo biển kiểm soát nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Khi đi đến cầu Hải Sơn, T ném biển kiểm soát xe mô tô đã tháo xuống dòng sông Mã rồi tiếp tục điều khiển xe đến xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn để tìm nơi bán xe nhưng không bán được xe. Đến 18 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô quay về bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã để tìm nơi bán xe và ngủ lại qua đêm tại bản Bướm Ỏ nhưng vẫn chưa bán được xe. Đến 09 giờ ngày 16/5/2024 T nghe thông tin Công an huyện Sông Mã đang tìm người trộm xe ở thị trấn Sông Mã, nhận thấy hành vi sai trái của mình nên T đã đến Công an thị trấn Sông Mã đầu thú về hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô của mình và giao nộp chiếc xe mô tô cho Công an thị trấn Sông Mã. Công an thị trấn Sông Mã đã tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, tạm giữ xe mô tô liên quan.
Ngày 17/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô T lén lút chiếm đoạt. Kết luận định giá tài sản số 18/KL ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Sông Mã kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius màu sơn trắng, vàng, đen, biển kiểm soát 26B2-585.05, số khung 26B258505, số máy 26B258505, đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng”.
Ngày 19/5/2024 tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc, kết quả: Nơi xảy ra vụ việc được xác định là khu vực vỉa hè đường 2/9 thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã. Qua xác định hiện trường đã xác định được các vị trí nơi T đứng quan sát để thực hiện hành vi phạm tội; vị trí để xe mô tô của người bị hại anh Tòng Văn D trước khi T lấy trộm. Các vị trí phù hợp với lời khai của T và người bị hại.
Đối với biển kiểm soát xe mô tô 26B2-585.05 theo Lò Văn T khai đã tháo biển số ném xuống dòng sông Mã tại cầu Hải Sơn, thuộc địa phận bản Hải Sơn, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã. Ngày 27/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã tiến hành truy tìm vật chứng nêu trên. Tuy nhiên không tìm thấy vật chứng như T mô tả.
Cáo trạng số 179/CT-VKSSM ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Lò Văn T về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về các tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 10 tháng đến 01 năm 02 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo Lò Văn T không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại: Anh Tòng Văn D đã nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt, nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, ý kiến của bị hại, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Khoảng 13 giờ ngày 15/5/2024 lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Lò Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, BKS 26B2-585.02 của anh Tòng Văn D; trú tại: Tổ dân phố 2, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, Sơn La, trị giá 10.000.000 đồng, mục đích đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân thì bị phát hiện.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; biên bản khám nghiệm hiện trường và kết luận định giá tài sản số 18/KL ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Lò Văn T thực hiện đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo tuy phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ và xã hội lên án mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe phòng ngừa chung và cải tạo riêng.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự giác ra đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã 01 lần bị kết án và được xóa án T. Do đó, khi lượng hình cần cân nhắc để có mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius màu sơn trắng, vàng, đen số khung, số máy 26B258505, Lò Văn T giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã ngày 16/5/2024. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô có biển kiểm soát 26B2-585.05, xe đăng ký mang tên D Ngọc Điệp, sinh năm 1979, nơi cư trú tổ dân phố 2, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã. Xe là tài sản của gia đình anh Tòng Văn D mua lại của anh Điệp vào năm 2022 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng trong vụ án khác và là tài sản hợp pháp của anh D. Ngày 27/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã trả lại cho anh D là phù hợp, cần chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Tòng Văn D đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, BKS 26B2-585.02 do bị cáo Lò Văn T đã chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lò Văn T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |
Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 228/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA HSST
