Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2024/HS-ST

Ngày 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Vũ Văn Khang

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 231/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 563/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1995 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Tổ 33 cụm E, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số D Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế T và bà Trần Thị H; có vợ là chị Đào Thị Hồng N và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2012/HSST ngày 13/11/2012 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); tạm giữ từ ngày 29/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/3/2024; có mặt.
  2. Nguyễn Xuân M, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Số D T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số F T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân V và bà Trần Thị L; có vợ là chị Trần Hồng N1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 29/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/3/2024; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Anh D; vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Mạnh T1; vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Thanh T2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 29/02/2024, tại khu vực đầu ngõ D L, Lạc Viên N, Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Nguyễn Xuân M có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi áo khoác bên phải của M 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 07 điếu cuộn màu trắng dài khoảng 7cm bên trong chứa thực vật khô vụn (mẫu QT1), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J7 Pro có lắp 01 sim đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 16L6-6726.

Thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Xuân M, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận N không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ngày 29/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Mạnh C, thu giữ trong người Chiến: 01 hộp nhựa màu xanh hình trụ tròn cao khoảng 08 cm, đường kính 03 cm bên trong đó có 10 điếu cuộn bằng giấy màu trắng (mẫu KC1), mỗi điếu dài 07cm bên trong chứa thực vật khô, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 có lắp 01 sim đa năng đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS 15B3-069.45.

Thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Mạnh C, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận N thu giữ tại phòng bếp 01 hộp kim loại đường kính 30cm bên trong có 01 gói nilon kích thước 08x14cm bên trong chứa thực vật khô (mẫu KX), 01 cân điện tử, 01 kéo, 01 máy xay, 03 hộp giấy bên trên in dòng chữ "MARIE" bên trong chứa giấy cuộn.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 01/3/2024 của Nguyễn Xuân M. Dương tính với Methamphetamine/Cần sa, còn Nguyễn Mạnh C dương tính với Cần sa.

Tại Kết luận giám định số 238/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Thực vật khô, vụn của mẫu KX gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 10,60 gam, là loại: Cần sa (hoa, lá cây cần sa).

Tại Kết luận giám định số 237/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Thực vật khô, vụn của mẫu QT1 (07 điếu cuộn) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,98 gam, là loại: Cần sa (hoa, lá cây cần sa); Thực vật khô, vụn của mẫu KC1 (10 điếu cuộn) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,83 gam, là loại Cần sa (hoa, lá cây cần sa).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh C và Nguyễn Xuân M khai: Do cần tiền tiêu sài nên C và M đã nảy sinh ý định bán ma túy “Cần sa” để kiếm lời. Qua quan hệ xã hội, C biết người đàn ông tên V (chưa rõ lai lịch) có bán ma túy Cần sa nên C đã nhiều lần liên hệ với V để mua ma túy rồi bán cho khách. C mua ma túy về cuộn thành các điếu, khối lượng khoảng 0,28 gam/điếu (cả giấy cuộn), bán với giá 100.000 đồng/điếu. C đã 02 lần mua ma túy của V trong đó, khoảng ngày 24 - 25/02/2024, C điều khiển xe mô tô BKS 15B3-069.45 đến khu vực ngõ D L, Ngô Q mua của V nửa hoa “Cần sa" (tương đương 0,5 gam) với giá là 1.400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C về nhà cuộn cần sa thành 20 điếu để chờ có khách mua sẽ bán, nếu bán hết 20 điếu thì C sẽ thu về được 2.000.000 đồng, thu lời 600.000 đồng (30.000 đồng/điếu). C đã bán ma túy Cần sa cho nhiều người, cụ thể như sau: Khoảng 12 giờ ngày 29/02/2024, M nhận được điện thoại của Nguyễn Anh D (sinh năm: 1988, nơi cư trú: số C Đà Nẵng, L, N, Hải Phòng) hỏi mua 07 điếu ma túy Cần sa. M đồng ý báo giá 150.000 đồng/điếu, D đồng ý và hẹn giao dịch tại số D L, L, Ngô Quyền . M gọi điện cho C mua 07 điếu Cần sa. C đồng ý bán cho M với giá 100.000 đồng/điếu. Sau đó, M điều khiển xe mô tô BKS 16L6-6726 đến khu vực đầu ngõ C T, T, Lê C1 gặp C lấy 07 điếu ma túy Cần sa và hẹn thanh toán sau. M cất 07 điếu cần sa vào trong 01 bao thuốc lá rồi đi đến địa điểm hẹn gặp D. Khi M đến khi vực đầu ngõ D L thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang

Kết luận giám định số 2125/KL- KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 của Nguyễn Xuân M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 của Nguyễn Mạnh C phát hiện thấy các cuộc gọi của M và C liên quan đến việc mua bán ma túy.

Qua công tác đấu tranh bằng tài liệu thu thập được của Cơ quan điều tra, các đối tượng còn thừa nhận: Tại khu vực ngõ C T, T, Lê C1, C còn 02 lần bán ma túy cho M để M bán lại cho D, cụ thể lần thứ nhất, ngày 27/02/2024, C bán cho M 02 điếu Cần sa với giá 200.000 đồng. M bán lại cho D với giá 300.000 đồng tại khu vực ngõ D L, Ngô Q; lần thứ hai, ngày 28/02/2014, C bán cho M 03 điếu cần sa với giá 300.000 đồng, sau đó M bán lại cho D với giá 450.000 đồng tại khu vực ngõ C T. M thu lời 50.000/điếu.

Trong các ngày 21, 25 và 27/02/2024, tại khu vực tập thể cảng, Cầu T, Ngô Q, C đã 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Mạnh T1 (sinh năm 1981, nơi cư trú: số E, Tập Thể C, Cầu T, Ngô Q, Hải Phòng, mỗi lần 02 điếu ma túy Cần sa, tổng số tiền là 600.000 đồng, ngày 22/02/2024, tại khu vực hồ A, Đ, Ngô Q, C đã bán cho Nguyễn Thanh T2 (sinh năm: 1983, nơi cư trú: Số I Hồ A, Đ, N, Hải Phòng) 02 điếu ma túy Cần sa giá 200.000 đồng. Triệu tập hai đối tượng Nguyễn Mạnh T1 và Nguyễn Thanh T2 đến Cơ quan điều tra, các đồi tượng đều khai nhận đã mua ma túy của C sau đó sử dụng hết cho bản thân.

Tại Cáo trạng số 233/CT-VKSNQ ngày 29 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 10 năm đến 11 năm tù; bị cáo Nguyễn Xuân M từ 8 năm 6 tháng đến 09 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 02 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 237MT/PC09 trong chứa 4,01 gam thực vật khô, vụn (cần sa) cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 238MT/PC09 bên trong chứa 10,21 gam thực vật khô vụn (cần sa) cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 hộp nhựa màu xanh hình trụ tròn cao khoảng 08 cm, đường kính 03 cm, 01 hộp kim loại đường kính 30cm, 01 cân điện tử, 01 kéo, 01 máy xay, 03 hộp giấy bên trong in dòng chữ “MARIE” bên trong chứa giấy cuộn.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J7 Pro có lắp 01 sim đã qua sử dụng của Nguyễn Xuân M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 có lắp 01 sim đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh C.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 390.000 đồng; bị cáo Nguyễn Xuân M phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 250.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của người làm chứng: Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt, trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

- Về tội danh:

  1. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, Biên bản khám xét ngày 01/3/2024; lời khai của người làm chứng; phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận:
    • [3.1] Từ ngày 21 đến 29/02/2024, bị cáo Nguyễn Mạnh C đã thực hiện hành vi 07 lần bán ma túy Cần sa tổng cộng 20 điếu với giá 100.000 đồng/điếu; thu lợi 390.000 đồng; thu giữ được 15,41 gam ma túy Cần sa, khối lượng ma túy Cần sa đã bán không thu giữ được là 3,67 gam, cụ thể: Vào các ngày 21, 25 và 27/02/2024, C đã 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Mạnh T1, mỗi lần 02 điếu ma túy Cần sa; ngày 22/02/2024, C đã bán cho Nguyễn Thanh T2 02 điếu ma túy Cần sa; 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Xuân M: ngày 28/02/2024, bán 03 điếu ma túy Cần sa, ngày 27/02/2024, bán 02 điếu ma túy Cần sa và ngày 29/02/2024, bán 07 điếu (1,98 gam) Cần sa giá 700.000 đồng (chưa thanh toán tiền).
    • [3.2] Nguyễn Xuân M đã thực hiện hành vi 03 lần bán ma túy Cần sa cho Nguyễn Anh D, tổng cộng 12 điếu với giá 150.000 đồng/1điếu, thu lợi 250.000 đồng (05 điếu), còn 07 điếu chưa kịp thanh toán thì bị bắt, thu giữ được 1,98 gam ma túy Cần sa, khối lượng ma túy Cần sa đã bán không thu giữ được là 1,40 gam, cụ thể: Ngày 27/02/2024, bán 02 điếu ma túy Cần sa, ngày 28/02/2024, bán 03 điếu ma túy Cần sa và ngày 29/02/2024, bán 07 điếu (1,98 gam) Cần sa.
    • [3.3] Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Các hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

  1. Bị cáo Nguyễn Mạnh C đã 07 lần bán ma túy, bị cáo Nguyễn Xuân M đã 03 lần bán ma túy nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b “phạm tội 02 lần trở lên”.

- Về hình phạt:

  1. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Mạnh C có 01 tiền án về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích. Như vậy, bị cáo C có nhân thân xấu.
  2. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  3. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  4. Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
  5. Theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo lao động tự do, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  1. Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ lưu hành; đối với 01 cân điện tử, 01 kéo, 01 máy xay là công cụ dùng vào việc phạm tội; đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1, 01 hộp nhựa màu xanh hình trụ tròn cao khoảng 08 cm, đường kính 03 cm, 01 hộp kim loại đường kính 30cm, 03 hộp giấy bên trong in dòng chữ “MARIE” bên trong chứa giấy cuộn là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J7 Pro có lắp 01 sim đã qua sử dụng của Nguyễn Xuân M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 có lắp 01 sim đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh C là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. Đối với khoản thu lợi bất chính từ việc bán ma túy thì cần buộc các bị cáo phải nộp lại theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Về án phí:

  1. Các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Những vấn đề khác:

  1. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS 15B3-069.45, tên chủ xe Phạm Thị P, địa chỉ Tổ T, Quán T, K, Hải Phòng và xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 16N2-6726 tên chủ xe là Vũ Văn H1, địa chỉ số C H, L, Hải Phòng đều có số khung, số máy nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự, không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Quá trình xác minh những người quản lý 02 xe mô tô trên chưa chứng minh được nguồn gốc của hai xe mô tô trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra Quyết định tách số 2170/QĐ-ĐCSMT ngày 26/7/2024 để tiếp tục làm rõ xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. Đối với đối tượng tên V đã bán ma túy cho C tại khu vực ngõ D L, N, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
  3. Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh D, Công an quận N đang xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
  4. Đối với chị Đào Thị Hồng N (là vợ của Nguyễn Mạnh C) có đi cùng xe máy với Nguyễn Mạnh C vào ngày 29/02/2024, lúc đó C có cất giấu trong người 10 điếu cuộn ma túy cần sa. Tuy nhiên, chị N không biết việc bị cáo cất giấu ma túy và không tham gia vào việc mua bán ma túy của bị cáo Nguyễn Mạnh C nên không xử lý đối với chị Đào Thị Hồng N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Mạnh C 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 02 năm 2024.
  • + Bị cáo Nguyễn Xuân M 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 02 năm 2024.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 237MT/PC09 trong chứa 4,01 gam thực vật khô, vụn (cần sa) cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 238MT/PC09 bên trong chứa 10,21 gam thực vật khô vụn (cần sa) cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 hộp nhựa màu xanh hình trụ tròn cao khoảng 08 cm, đường kính 03 cm, 01 hộp kim loại đường kính 30cm, 01 cân điện tử, 01 kéo, 01 máy xay, 03 hộp giấy bên trong in dòng chữ “MARIE” bên trong chứa giấy cuộn.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J7 Pro có lắp 01 sim đã qua sử dụng của Nguyễn Xuân M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 có lắp 01 sim đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh C đựng trong phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của Phòng K Công an thành phố H và chữ ký của giám định viên Phạm Quang H2.
  • (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 390.000 (ba trăm chín mươi nghìn) đồng; bị cáo Nguyễn Xuân M phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M mỗi người phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Xuân M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 228/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thụ lý 231
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger