TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 228/2024/HS-ST
Ngày 08-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Thanh Hải Ông Phạm Mạnh Hùng |
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 214/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo.
Nguyễn Thái H, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1975, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Tổ T, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: E Chung cư B, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Nguyên Phó Giám đốc Chi nhánh Công ty B; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thế H1 và bà Trần Thị T; vợ là Ngô Thu H2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 05/3/2024, có mặt.
- Bị hại: Tổng Công ty Cổ phần B1; địa chỉ: Số H Bà T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật là ông Đoàn K - Tổng giám đốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trung tâm K3 được thành lập 2019, thuộc Công ty B (Công ty Cổ phần). Ngày 14/11/2022, Tổng Công ty B1 đã sáp nhập Công ty B và Trung tâm K3, bà Lê Thu H3 làm giám đốc, Nguyễn Thái H là Phó Giám đốc (từ ngày 30/6/2020 đến ngày 16/01/2023 thôi việc). H được phân công nhiệm vụ: giúp giám đốc chỉ đạo, điều hành một số công tác, chịu trách nhiệm trước giám đốc, trước công ty và pháp luật; thực hiện công tác kinh doanh của công ty theo định mức quy định, quản lý theo ủy quyền của giám đốc; tham mưu cho giám đốc phát triển kinh doanh và nhân sự của công ty, thực hiện các công việc do giám đốc chỉ đạo. H phụ trách 9 nhân viên thuộc 02 phòng kinh doanh gồm Phòng kinh doanh 03 và phòng K4. Từ ngày 14/11/2022, H không phát sinh Hợp đồng bảo hiểm với công ty.
Tại Công ty B thực hiện quy trình cấp mã, thu nộp tiền, hưởng chiết khấu của nhân viên, cụ thể:
- Quy trình cấp mã nhân viên: hồ sơ gồm hợp đồng lao động, giấy yêu cầu cấp mã tài khoản nhân viên trên phần mềm quản lý của công ty. Nhân viên sẽ dùng mã nhân viên, mật khẩu để cập nhật các hợp đồng đã khai thác được.
- Thời hạn nộp phí bảo hiểm: 15 ngày với khách hàng cá nhân, 30 ngày với khách hàng doanh nghiệp (từ ngày cấp Hợp đồng bảo hiểm) phải nộp tiền và giấy tờ về công ty để kế toán đối chiếu công nợ. Cán bộ được trừ chiết khấu trước khi nộp tiền phí bảo hiểm về công ty hoặc khách hàng nộp vào tài khoản công ty rồi trừ chiết khấu sau.
- Công ty có 10 tài khoản thu phí. Sau khi trừ chiết khấu, H phải nộp đủ số tiền còn lại về công ty. Trong thời gian làm việc H khai thác được 241 hợp đồng bảo hiểm, đã nộp tiền về công ty.
Sau khi tiến hành kiểm tra hoạt động của Công ty B, Tổng Công ty B2 xác định: Từ năm 2020 đến năm 2022, Nguyễn Thái H với chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm K3 đã có hành vi thu phí bảo hiểm của khách hàng nhưng không nộp về tài khoản của Công ty B và chiếm đoạt số tiền là 1.018.098.074 đồng (tính đến ngày 27/6/2023) gồm 257.497.500 đồng tiền phí của Công ty B và 760.600.574 đồng của Trung tâm K3. Công ty B đã làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan Công an.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra làm việc với Công ty B xác định: đối chiếu các khoản trên sao kê tài khoản cá nhân của Nguyễn Thái H với Nguyễn Văn K1 và đại lý Nguyễn Hữu N với các hợp đồng bảo hiểm Nguyễn Thái H có trách nhiệm thu nộp về Công ty cho thấy: H đã nhận của Nguyễn Văn K1 (nhân viên công ty B) từ ngày 11/9/2020 đến ngày 11/3/2022 là 433.104.385 đồng, đã nộp về công ty 259.442.385 đồng, còn lại 173.662.000 đồng chưa nộp. H đã nhận của Nguyễn Hữu N (đại lý bán bảo hiểm cho H) từ ngày 28/10/2020 đến ngày 21/7/2023 là 632.576.951 đồng đã nộp về công ty 462.070.951 đồng, còn lại 170.506.000 đồng chưa nộp. Nội dung ghi trên các mục chuyển khoản ghi rõ nộp tiền đóng bảo hiểm của từng khách hàng. Tổng số tiền bảo hiểm H nhận của K1 và N nhưng không nộp về công ty, là 344.168.000 đồng.
Quá trình điều tra, Công ty B có bản đính chính: Công ty trình báo H chiếm đoạt tổng số tiền 1.018.098.074 đồng bao gồm tiền công nợ của nhiều nhân viên do H có trách nhiệm quản lý, thu về. Trong đó, có 337.557.000 đồng là tiền phí bảo hiểm H nhận của Nguyễn Văn K1 và Nguyễn Hữu N không nộp về công ty là (trong đó số tiền của K1 là 171.755.000 đồng, của Nghĩa là 165.802.000 đồng).
Quá trình điều tra Nguyễn Thái H và người thân đã nộp trả cho Công ty B và khắc phục hậu quả với tổng số tiền là 600.679.000 đồng. Ngày 13/9/2024, Công ty B xác nhận H đã hoàn thành xong các công nợ với Công ty.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thái H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Để phát triển thị trường H lập thêm các nhóm đại lý ở P (trong đó có Nguyễn Văn K1) và một số nhân viên khác. H phát quyển ấn chỉ bảo hiểm cho đại lý và cộng tác viên ghi cho khách (hiện tại các đại lý và các cộng tác viên không hoạt động). Từ năm 2020 - 2022, H có trách nhiệm thu hồi số tiền 760.421.240 đồng tương ứng 75 bộ hợp đồng bảo hiểm của khách hàng mua bảo hiểm tại Trung tâm K3 và 210.547.000 đồng tiền phí bảo hiểm của Công ty B (H đã ký xác nhận vào các biên bản làm việc, bảng kê công nợ với công ty). H khẳng định số tiền bảo hiểm Công ty B trình báo là chưa chính xác, do còn một số tiền bảo hiểm H mua của Công ty G (Công ty B đã xác nhận H có nộp lại khoản tiền này). H chỉ thừa nhận số tiền bảo hiểm 337.557.000 đồng nhận của K1 và N nhưng không nộp về công ty là chính xác. Do H không quản lý được thu chi, số tiền K1 chuyển cho H đã chi tiêu cá nhân dẫn đến không có tiền nộp lại công ty.
Ông Nguyễn Văn K1 gửi bản tường trình đến Cơ quan điều tra trình bày: Từ năm 2021 ông K1 bán bảo hiểm B, hưởng hoa hồng do H đưa cho bán. Tiền bán bảo hiểm ông K1 đã chuyển khoản và đưa tiền mặt cho H, không nhớ bao nhiêu. Ông khen không nợ tiền bảo hiểm của công ty và không nợ tiền ông H. Tháng 09/2022, ông khen nghỉ việc.
Vật chứng gồm: 01 máy tính xách tay thu giữ tại nơi ở của H và số tiền 100.000.000 đồng chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Tại bản Cáo trạng số 218/CT-VKS-P3 ngày 16/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thái H về tội Tham ô tài sản, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Ban đầu bị cáo khai quanh co không nhận đã chiếm đoạt nhận đã chiếm đoạt tiền của Công ty, sau khi công bố lời khai và các tài liệu chứng, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thừa nhận số tài sản bị cáo chiếm đoạt của Công ty như nội dung cáo trạng là đúng.
Bị hại có văn bản xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xác nhận về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho Công ty, bị hại không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thái H từ 05 năm đến 06 năm tù về tội Tham ô tài sản. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn 03 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án.
Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
Vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Thái H 01 máy tính xách tay và số tiền 100.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về việc vắng mặt của bị hại: Bị hại Tổng Công ty Cổ phần B1 được triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có văn bản nêu ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Xét thấy việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
- Về tội danh:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với kết luận Giám định, tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Nguyễn Thái H là Phó Giám đốc Trung tâm K3 thuộc Công ty B, có trách nhiệm quản lý, thu phí bảo hiểm từ các đơn vị phụ trách nộp về công ty đúng kì hạn. Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, Nguyễn Thái H đã thu phí bảo hiểm của các đại lý và cộng tác viên (Nguyễn Hữu N, Nguyễn Văn K1) nhưng chưa nộp lại, chiếm đoạt của Công ty B số tiền phí bảo hiểm là 337.557.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Thái H đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự. - Về tình tiết định khung:
Số tiền bị cáo Nguyễn Thái H chiếm đoạt của Công ty B là 337.557.000 đồng nên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự “Chiếm đoạt tài sản trị giá 100.000.000 đồng trở lên”.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ đúng pháp luật. - Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của Công ty được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả kinh doanh của Công ty do vậy cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, Đại diện bị hại có công văn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có bố tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, hậu quả của vụ án đã được khắc phục hoàn toàn, bị hại có văn bản xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 03 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường của bị cáo và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường số tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: 01 chiếc máy tính xách tay và số tiền 100.000.000 đồng thu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội và trách nhiệm dân sự trong vụ án đã giải quyết xong nên cần trả lại bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng theo quy định của pháp luật.
- Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có Nguyễn Ngọc T1 (Trưởng phòng kinh doanh bảo hiểm), Hoàng Thị O (nhân viên kinh doanh bảo hiểm) của Công ty B là những người giúp H nhập tiền bảo hiểm theo mã nhân viên ghi tên các đại lý, cộng tác viên trên hệ thống quản lý của Công ty B do H chỉ định. Quá trình điều tra xác định, T1 và O chỉ nhập hộ H trên hệ thống, không biết việc H nhận tiền bảo hiểm từ các đại lý, cộng tác viên không thanh toán lại cho công ty nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Ngoài ra, trên hệ thống quản lý của Công ty B còn có nhiều tên nhân viên đại lý bảo hiểm thuộc trách nhiệm quản lý của Nguyễn Thái H (tương ứng 72/107 hợp đồng bảo hiểm) gồm: Vũ Khắc D, Vũ Đức H4, Lê Văn V, Trương Trà M, Phí Minh K2. Quá trình điều tra những người này trình bày việc họ đứng tên trên hệ thống quản lý của Công ty B cho đủ chỉ tiêu, không biết Nguyễn Thái H có phải là người bán bảo hiểm, thu phí với các hợp đồng mà họ đứng tên hay không. Do đó, không đủ căn cứ xác định khoản tiền thu phí bán bảo hiểm đứng tên những người này trên hợp đồng là của Nguyễn Thái H. Kết quả điều tra không chứng minh được H chiếm đoạt số tiền này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 và khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội Tham ô tài sản, xử phạt Nguyễn Thái H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024.
Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thái H 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo, S: MP1P21P9 đã qua sử dụng và số tiền 100.000.000 đồng.
(Đặc điểm tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Uỷ nhiệm chi lập ngày 28/10/2024 giữa Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng với Cục Thi hành án dân sự).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thái H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 228/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tham ô tài sản
- Số bản án: 228/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 5 năm tù
