TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NÔI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 228/2023/HSST Ngày 25 tháng 12 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Duy Hùng
Bà Dương Thị Diễm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Thành phần tại Trại giam S1 Công an thành phố H. Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2023/TLST- HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 459/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1984; HKTT và nơi ở: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đăng T1; Con bà: Phan Thị T2; Chồng: Đỗ Hồng S; Có 02 con SN 2006 và SN 2008; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số: 370 lập ngày 17/10/2023 tại Công an quận B; Bị cáo bị bắt quả tang ngày: 08/10/2023; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Có mặt tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H.
Người bị hại
- Chị Hà Thị Minh N – Sinh năm : 1995 – ĐKHKTT : Thôn F, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội ; Hiện ở : P308 toà N5B KĐT T, phường N, quận T, thành phố Hà Nội.
- Anh Lưu Tiến M – Sinh năm : 1993 – ĐKHKTT và nơi ở: TDP H, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.
(Chị N, anh M có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 08/10/2023, Nguyễn Thị T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 67L1-301.26 đến cửa hàng bán điện thoại FPT - Địa chỉ: số B K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi trao đổi và được sự tư vấn của nhân viên cửa hàng, T đề nghị mua chiếc điện thoại S2 Galaxy Zfold 5 và 01 ốp điện thoại di động. Sau khi được anh Lưu Tiến M - sinh năm: 1993; Địa chỉ: TDP H, phường C, quận B, thành phố Hà Nội - quản lý cửa hàng FPT báo giá cho T chiếc điện thoại và ốp điện thoại có giá là 33.927.000 đồng. Thúy đề nghị được thanh toán bằng hình thức chuyển khoản nên anh M đưa cho T 01 mã QR CODE để T thực hiện chuyển khoản. T liền chụp lại mã QR CODE, gửi cho một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) qua ứng dụng TeleGram. Khoảng một lúc sau, người đàn ông trên gửi lại hình ảnh về việc chuyển tiền thành công số tiền 33.927.000đồng cho T. T đưa điện thoại có hình ảnh chuyển tiền thành công giả cho anh M chụp lại, chứng minh về việc mình đã thanh toán tiền mua chiếc điện thoại trên. Anh M bảo T chờ rồi kiểm tra trên hệ thống nhưng vẫn không thấy tiền đã được chuyển vào tài khoản. Chờ đợi một lúc vẫn không thấy hệ thống thông báo tiền chuyển vào tài khoản nên anh M đề nghị T cho xem lịch sử chuyển khoản trong ứng dụng ngân hàng nhưng T liên tục quanh co, lẩn tránh. Nghi ngờ T thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản nên anh M đã thông báo Công an phường K Sau khi nhận được tin báo, Công an phường K đã có mặt và bắt quả tang đối với T, tạm giữ tang vật đưa về trụ sở để lập biên bản tại cửa hàng bán điện thoại FPT.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T khai nhận: Bản thân T không có việc làm, nợ nần rất nhiều người, bị áp lực phải trả nợ. Do vậy, để có tiền trang trải sinh hoạt cá nhân, trả nợ T đã nảy sinh ý định phạm pháp để chiếm đoạt tài sản. Thông qua mạng xã hội Facebook, T tham gia vào hội nhóm “hội những người vỡ nợ muốn làm liều”. Tại đây, T được 01 người đàn ông không quen biết đề nghị Thúy kết bạn bằng ứng dụng Telegram. Người đàn ông trên hướng dẫn T chiếm đoạt tiền bằng cách mua hàng rồi đề nghị chủ cửa hàng thanh toán bằng hình thức chuyển khoản, sau khi có được thông tin số tài khoản thì nhắn tin cho người đàn ông trên qua ứng dụng Telegram. Sau đó, đối tượng trên chuyển lại hình ảnh chuyển tiền thành công giả cho T để lừa người bán hàng, nhằm chiếm đoạt sản phẩm đã mua để bán lấy tiền.
Với phương thức, thủ đoạn như trên, T đã thực hiện thành công vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Khoảng 17h00 ngày 07/10/2023, T đi đến cửa hàng cắt tóc M -Địa chỉ: tòa N khu đô thị T, phường N, quận T, thành phố Hà Nội, để làm tóc. Khoảng 18h00 cùng ngày, sau khi làm các dịch vụ ở cửa hàng cắt tóc, T được chị Hà Thị Minh N - sinh
năm: 1995; Địa chỉ: P tòa N khu đô thị T, phường N, quận T, thành phố Hà Nội - chủ cửa hàng thông báo tổng số tiền các gói dịch vụ làm tóc của T là 3.100.000 đồng (ba triệu một trăm ngàn đồng). Sau khi được thông báo, T liền hỏi vay chị N số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) và đề nghị sẽ thanh toán toàn bộ số tiền trên bằng hình thức chuyển khoản. Tin tưởng T, chị N đã đưa cho T số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) và đưa mã QRCode của cửa hàng cho T để T thực hiện việc chuyển tiền. Sau khi có mã QRCode, T liền chụp lại mã QRCode của cửa hàng, gửi hình ảnh mã QRCode và nhắn tin số tiền cần chuyển cho người đàn ông trên qua ứng dụng Telegram. Một lúc sau, đối tượng trên gửi lại cho T 01 hình ảnh chuyển tiền thành công số tiền 7.100.000 đồng (bảy triệu một trăm ngàn đồng). T liền đưa cho chị N xem hình ảnh chuyển tiền thành công giả chứng minh về việc mình đã chuyển tiền. Tin tưởng T, chị N đã kiểm tra tài khoản nhưng không thấy tiền được chuyển vào tài khoản thì T liền nói dối là do lỗi hệ thống để thực hiện hành vi chiếm đoạt rồi bỏ về.
Đến ngày 08/10/2023, khi T đang thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt 01 điện thoại di động Samsung galaxy S2 Fold 5 tại cửa hàng bán điện thoại FPT thì bị bắt quả tang như trên.
Thu giữ của Nguyễn Thị T: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S22 màu trắng, đã qua sử dụng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 67L1-301.26.
Thu giữ của anh Lưu Tiến M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Fold 5, còn nguyên niêm phong; 01 (một) hộp bên trong đựng ốp ĐTDĐ Galaxy ZFold 5; 01 video clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị T vào cửa hàng FPT vào ngày 08/10/2023, thực hiện hành vi mua hàng, đưa máy điện thoại cho anh M chụp lại hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công và bị bắt giữ.
Thu giữ của chị Hà Thị Minh N: 01 video clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị T vào cửa hàng cắt tóc Mạnh Trần ngày 07/10/2023, thực hiện hành vi quét mã QRCODE, đưa hình ảnh chuyển tiền thành công cho chị N.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 135/KLĐG-HĐĐGTS ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu S2 ZFold 5, còn nguyên niêm phong trị giá 32.990.000đồng; 01 hộp bên trong đựng ốp điện thoại di động Galaxy ZFold 5 trị giá 937.000đồng, tổng trị giá là 33.927.000 đồng.”
Tại Cơ quan điều tra, anh Lưu Tiến M, chị Hà Thị Minh N trình bày nội dung như trên. Chị N đã nhận dạng T là người đã đưa chị T hình ảnh về việc chuyển tiền thành công số tiền 7.100.000 đồng vào ngày 07/10/2023 tại địa chỉ quán C
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu S2 ZFold 5; 01 hộp bên trong đựng ốp điện thoại di động G ZFold 5 cho anh Lưu Tiến M. Anh M đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu bồi thường
dân sự. Ngoài ra, gia đình T đã đền bù số tiền 7.100.000 đồng cho chị N. Chị N đã nhận lại đầy đủ số tiền trên và không còn yêu cầu bồi thường dân sự.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 67L1-301.26. Qua xác minh xác định chủ xe là anh Phạm Văn Q - Sinh năm: 1985; HKTT: ấp M, xã M, Chợ M, An Giang, anh Qui trình b cho T mượn xe ngày 08/10/2023 để sử dụng và không biết việc T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh Phạm Văn Q.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ, dữ liệu camera và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số 227/CT-VKSBĐ ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Nguyễn Thị T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo qui định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản 1, Điều 174; điểm b,i,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm g, khoản 1, điều 52; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 14 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 28 tháng đến 36 tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị T về Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trả tự do ngay cho bị cáo nếu bị cáo không bị giam giữ về một tội nào khác.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thị T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S22 màu trắng, Imei 1: 352497331647406; Imei 2: 355745374647406, số sim: 0813669336, đã qua sử dụng. Theo biên bản bàn giao số 62 ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận: Vào các ngày 07 và 08/10/2023, với thủ đoạn gian dối là làm giả giao dịch chuyển tiền, Nguyễn Thị T đã chiếm đoạt số tiền 7.100.000 đồng của chị Hà Thị Minh N và đang chiếm đoạt 01 điện thoại di động S2 5, có hộp, ốp trị giá 33.927.000 đồng của anh Lưu Tiến M thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi dùng thủ đoạn gian dối của bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngưởi khác, tạo dư luận bất bình, bức xúc đối với người bị hại. Bị cáo biết rõ hậu quả nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với động cơ mục đích vụ lợi cá nhân, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần phải có một bản án nghiêm khắc. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lầmn đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Hành vi phạm tội ngày 07/10/2023 bị cáo đã đầu thú hành vi phạm tội của mình và đã tác động gia đình hoàn trả lại cho chị N toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của chị N; Hành vi ngày 8/10/2023, bị cáo T đang thực hiện hành vi đã bị phát hiện bắt quả tang, chưa xảy ra thiệt hại. Người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn hiện đang nhờ ông bà ngoại nuôi con vì hai vợ chồng đã ly thân, con lại bị bệnh tự kỷ có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng để làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,i,s, khoản 1, khoản 2, điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên tòa không xét.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5, Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S22 màu trắng, Imei 1: 352497331647406; Imei 2: 355745374647406, số sim: 0813669336, đã qua sử dụng. Theo biên bản bàn giao số 62 ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 174; Điểm b,i,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm g, khoản 1, điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 199, Điều 227, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị T về Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.Trả tự do ngày cho bị cáo nếu bị cáo không bị giam giữ về một tội nào khác.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thị T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S22 màu trắng, Imei 1: 352497331647406; Imei 2: 355745374647406, số sim: 0813669336, đã qua sử dụng. Theo biên bản bàn giao số 62 ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thuý Hạnh |
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại phòng nghị án Điểm cầu trung tâm tại Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Duy H1
Bà Dương Thị Diễm
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 225/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Thị T - SN: 1984
HKTT và nơi ở: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN,
BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 174; Điểm b,i.s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm g, khoản 1, điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 199, Điều 227, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị T về Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.Trả tự do ngày cho bị cáo nếu bị cáo không bị giam giữ về một tội nào khác.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thị T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S22 màu trắng, Imei 1: 352497331647406; Imei 2: 355745374647406, số sim: 0813669336, đã qua sử dụng. Theo biên bản bàn giao số 62 ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý.
Kết quả: biểu quyết 3/3 nhất trí những nội dung đồng ý nêu trên.
Biên bản lập xong đã thông qua Hội đồng xét xử, công nhận đúng và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 228/2023/HSST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 228/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thúy phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
