Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2023/HS-ST

Ngày: 28-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Huy Luận, bà Nguyễn Thị Viết Sáu

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Hồng P

Phạm Hồng P (tên gọi khác: Phương L), sinh ngày 25 tháng 5 năm 1982 tại Bình Thuận

Nơi cư trú: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: bốc vác; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng S (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; chung sống như vợ chồng với bà Văn Thị Bích T; tiền án: ngày 14/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/2020/HSST; tiền sự: không; nhân thân: ngày 17/11/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 65/2004/HSST.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: ông Trần Ngọc H, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/5/2020, Phạm Hồng P bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/6/2021, chưa được xóa án tích. Ngày 16/02/2023, P tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 16/02/2023, Phạm Hồng P điều khiển xe mô tô biển số 86C1-486.90 mang theo 01 cây kìm cộng lực đi đến rẫy ở thôn T, xã T, thành phố P của ông Trần Ngọc H. Phát hiện không có ai trông coi rẫy nên P dùng kìm cộng lực mang theo cắt nhiều đoạn dây kẽm, mỗi đoạn dài khoảng 01 mét rồi bó thành 04 bó đem vào bụi cây gần đó cất giấu đem đi tiêu thụ sau.

Đến ngày 09/3/2023, ông H lên rẫy thì phát hiện bị mất trộm dây kẽm gai dùng làm hàng rào. Ông H kiểm tra thì phát hiện trong bụi cây gần đó có 04 bó kẽm gai đã bị cắt nhỏ thành từng đoạn khoảng 01 mét nên đã bó lại thành 03 bó bằng nhau rồi đến Công an xã T trình báo và giao nộp số dây kẽm gai trên.

Qua truy xét, Công an xã T đã đưa P đến trụ sở để làm rõ vụ việc, tại đây P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ từ Phạm Hồng P:

  • + 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 86C1-486.90;
  • + 01 cây kìm cộng lực dài 36cm, hai tay cầm bọc nhựa màu xanh.

- Thu giữ từ ông Trần Ngọc H:

  • + 03 bó kẽm gai có chiều dài trung bình từ 50 cm đến 01 mét, màu ghi.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 140/KL-HĐĐGTS ngày 03/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 03 bó kẽm gai có chiều dài trung bình từ 50 cm đến 01 mét, màu ghi trị giá 294.000 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự:

- Đối với 03 bó kẽm gai có chiều dài trung bình từ 50 cm đến 01 mét, màu ghi, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại tài sản trên cho ông Trần Ngọc H. Sau khi nhận tài sản, ông H không yêu cầu Phạm Hồng P bồi thường gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho P.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 86C1-486.90 và 01 cây kìm cộng lực dài 36cm, hai tay cầm bọc nhựa màu xanh, P sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do P đứng tên chủ sở hữu.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 198/CT-VKSPT-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Phạm Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 04 (bốn) tháng tù đến 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu 01 cây kìm cộng lực dài 36cm, hai tay cầm bọc nhựa màu xanh; trả lại 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 86C1-486.90 cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 14 giờ ngày 16/02/2023, tại thôn T, xã T, thành phố P, Phạm Hồng P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 03 bó kẽm gai có chiều dài trung bình từ 50 cm đến 01 mét, màu ghi trị giá 294.000 đồng của anh Trần Ngọc H.

Giá trị tài sản mà Phạm Hồng P trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng do P đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục vi phạm nên hành vi của P cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo Phạm Hồng P có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì động cơ tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản, bất chấp hậu quả xử lý của pháp luật. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cung cấp thông tin về tội phạm cho cơ quan điều tra, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, mẹ của bị cáo (bà Nguyễn Thị N) tham gia cách mạng và nhiều lần được Nhà nước tặng thưởng huân chương, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo đã từng bị xét xử nhiều lần về tội trộm cắp tài sản, mới chấp hành án phạt tù xong, chưa được xóa án tích nhưng không rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung, thời gian phạt tù phải tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại 03 bó kẽm gai có chiều dài trung bình từ 50 cm đến 01 mét, màu ghi cho ông Trần Ngọc H, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 86C1-486.90 không phải là công cụ, phương tiện dùng để phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với cây kìm cộng lực dài 36 cm, hai tay cầm bọc nhựa màu xanh là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Ngọc H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Hồng P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
  2. Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Hồng P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

    Tịch thu tiêu hủy cây kìm cộng lực dài 36 cm, hai tay cầm bọc nhựa màu xanh.

    Trả lại cho bị cáo Phạm Hồng P 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 86C1-486.90.

    (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 20 ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

  5. Về án phí:
  6. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Phạm Hồng P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/11/2023). Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 227/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 06 tháng tù giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger