TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 227/2023/HS-ST Ngày 28-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Hà
- Ông Nguyễn Văn Môn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 224/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2023/QĐST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1983; tên gọi khác: Không có; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Đức T, sinh năm 1960; con bà: Phương Thị Đ, sinh năm 1963; có vợ: Lý Thị L, sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 54 ngày 06/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ”, đã được xóa án tích.
Tại Quyết định số 30/QĐ-XPHC ngày 14/5/2013 Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 15/8/2013 bị Chủ tịch UBND tỉnh C quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 18/9/2023 bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Bị cáo Nguyễn Mạnh C có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B.
* Bị hại:
- Anh Nông Trọng N, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
- Chị Quách Thu H, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Xóm A B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng
Chỗ ở hiện nay: Xóm Nà Tục, xã Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Chị Nông Thị B (Nông Thị L1), sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng
* Người làm chứng:
- Cháu Ngọ Thị Ngọc A, sinh năm 2013 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu Ngọ Thị Ngọc A: Chị Quách Thu H, sinh năm 1982
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Phú Mỹ, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Số 15/3 đường Phạm Túc Minh, tổ dân phố Phú Mỹ 1, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Vụ thứ nhất: Nguyễn Mạnh C và anh Nông Trọng Nghĩa 1 bạn bè quen biết từ trước. Ngày 10/6/2023, C đến ở cùng anh N và anh Nông Văn L2, sinh năm 1990 (là em trai của anh N) tại phòng trọ ở xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Buổi sáng ngày 12/6/2023, C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh N mang đi cầm cố lấy tiền để mua ma túy. Quan sát trong phòng trọ không có ai, C lục tìm trong ví của anh N để trên giường ngủ lấy trộm số tiền 200.000 đồng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 11H1-181.46 mang tên anh Nông Văn C1. C quan sát thấy chìa khoá xe mô tô của anh N đang treo ở cột nhà cạnh cửa ra vào nên đã lấy chìa khoá xe rồi đi đến vị trí chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen, BKS 11H1-181.46. C cắm chìa khoá xe vào ổ khóa xe mô tô rồi điều khiển xe đi đến Cửa hiệu cầm đồ Chiến Lan ở tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. C đặt vấn đề với chị Nông Thị B, sinh năm 1978 là chủ cửa hiệu cầm đồ cho cầm cố chiếc xe mô tô BKS 11H1-181.46. C nói với chị B chiếc xe này do C mua lại và cho chị B xem giấy chứng nhận ký xe mô tô. Chị B đồng ý nhận cầm cố xe mô tô với giá 13.000.000 đồng và viết 01 hợp đồng cầm đồ, C ký tên xác nhận ở mục “Khách hàng” và để lại 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh C để làm tin. Số tiền trên, C đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 27/6/2023, chị Nông Thị B giao nộp cho Công an huyện T 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Mạnh C; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 11H1-181.46 kèm theo đăng ký xe và 01 hợp đồng cầm đồ đề ngày 12/6/2023.
Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Cao Bằng kết luận:
01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150, màu sơn xanh đen, BKS 11H1-18146, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 12/6/2023 là 18.666.667 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã cho chị Nông Thị B và anh Nông Trọng N nhận dạng ảnh Nguyễn Mạnh C. Kết quả chị B nhận ra C đã mang xe đến cầm cố, anh N nhận ra C đã trộm cắp chiếc xe mô tô của anh N.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Nguyễn Mạnh C trên hợp đồng cầm đồ đề ngày 12/6/2023 do chị B giao nộp. Kết luận giám định số 1976/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Phòng K không kết luận chữ ký dạng chữ viết có nội dung “C” dưới mục “Khách hàng” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Mạnh C trên các tài liệu mẫu do chữ viết cần giám định có số lượng ít, không đủ đặc điểm để tiến hành giám định.
- Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A – trừ nội dung đã kết luận ở trên) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Mạnh C trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người ký, viết ra”.
Ngày 18/10/2023, Cơ quan điều tra đã cho C quan sát hợp đồng cầm đồ nêu trên. C xác định chữ ký “Cường” dưới mục khách hàng là do C ký khi cầm cố chiếc xe mô tô BKS 11H1-181.46 cho chị B.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 11H1-181.46 kèm theo đăng ký xe.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nông Trọng N yêu cầu C bồi thường 200.000 đồng. Chị Nông Thị B yêu cầu C bồi thường 13.000.000 đồng.
Đối với chị Nông Thị B mua xe mô tô BKS 11H1-181.46 nhưng không biết là tài sản do C phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
* Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 26/7/2023, Nguyễn Mạnh C đến Bến xe B mục đích để bắt xe khách về quê. C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua vé xe ô tô. C đi bộ trên các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố B xem ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 19 giờ cùng ngày, C đi đến khu vực tổ dân phố P, phường D, thành phố B thì thấy chị Quách Thu H, sinh năm 1982 ở tổ dân phố P, phường D, thành phố B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 98D1-342.97 chở con gái là Ngọ Thị Ngọc A, sinh năm 2013 đi đễn đỗ xe ở sát lề đường cạnh chợ Đ1, ngõ H, đường L, tổ dân phố P, thành phố B. Chị H xuống xe đi sang đường mua thức ăn; chìa khóa xe mô tô vẫn cắm ở ổ khóa xe, cháu Ngọc A đứng bên cạnh. C quan sát thấy chị H không chú ý nên đi đến ngồi lên xe, dùng tay mở khóa điện rồi đề nhưng xe không nổ máy. Ngay lúc đó, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960, trú tại Tổ dân phố P, phường D, thành phố B đang bán hàng gần đó nhìn thấy C trộm cắp xe nên bảo cháu Ngọc A giữ xe lại. Bà H1 chạy đến túm giữ xe mô tô và hô hoán. C xuống xe thì chị H chạy tới túm áo. C giằng tay chị H ra và bỏ chạy được khoảng 10m thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ. Sau đó, Công an phường D đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Mạnh C về hành vi trộm cắp tài sản và tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 98D1-342.97.
Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Mạnh C 01 ví da màu đen bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Đặng Văn N2; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu BAVATEL. Kiểm tra điện thoại di động không phát hiện nội dung vi phạm pháp luật.
Kết luận định giá tài sản số số 145/KL-HĐĐG ngày 03/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98D1-342.97, mua mới năm 2015, xe đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 26/7/2023 là 18.000.000 đồng.
Ngày 22/8/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho C xác định hiện trường vụ trộm cắp tài sản. Kết quả, C xác định đúng vị trí trộm cắp tài sản tại lề đường cạnh chợ Đ1, ngõ H, đường L, tổ dân phố P, thành phố B.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 98D1-342.97 cho chị Quách Thu H. Chị H không có đề nghị gì.
Đối với chứng minh nhân dân số [...] mang tên Đặng Văn N2, sinh năm 1979, trú tại tổ A, phường S, thành phố C do Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Mạnh C. Kết quả điều tra xác định đầu tháng 7/2023, C mượn chiếc xe mô tô của anh N2, trong cốp xe có chứng minh nhân dân của anh N2. Cơ quan điều tra đã trả lại chứng minh nhân dân cho anh N2.
Tại bản Cáo trạng số 235/CT-VKS ngày 07 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo nhận trách nhiệm bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo yêu cầu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nông Trọng N số tiền 200.000 đồng; bồi thường cho chị Nông Thị B số tiền 14.000.000 đồng.
- Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo C 01 ví da nam màu đen, bề mặt ví có ghi chữ “LACOSTE”, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BAVATEL vỏ màu cam đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Mạnh C nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 710.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường D, thành phố B lập hồi 19 giờ 05 phút ngày 25/7/2023, phù hợp với vật chứng và thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng Kết luận định giá tài sản số 145/KL-HĐ ngày 03/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B và Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Cao Bằng đối với vật chứng thu giữ. Trên cơ sở lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định:
Ngày 12/6/2023 tại phòng trọ ở xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Mạnh C trộm cắp của anh Nông Trọng N số tiền 200.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150 BKS 11H1-18146 trị giá 18.666.667 đồng sau đó đem đi bán được 13.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe trả lại cho người bị hại.
Ngày 26/7/2023 tại khu vực chợ Đ1, tổ dân phố P, phường D, thành phố B; Nguyễn Mạnh C trộm cắp của chị Quách Thu H chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 98D1-342.97 trị giá 18.000.000 đồng thì bị Công an phường D bắt quả tang.
Tổng giá trị tài sản C trộm cắp trong 2 vụ là 36.866.667 đồng.
Bị cáo C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của bị hại, gây mất trật tự xã hội, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số: 235/CT-VKS ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân không tốt.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng bị cáo là người có nhân thân không tốt, đã từng bị đưa ra xét xử và bị xử phạt hành chính nhiều lần, chưa bồi thường thiệt hại, khắc phục hậy quả nên buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi phạm tội khác trong đời sống xã hội hiện nay. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy Kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là phù hợp nên áp dụng cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nông Trọng N yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 200.000 đồng, chị Nông Thị B yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 14.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh N và chị B nên cần buộc bị cáo phải bồi thường.
[7] Về vật chứng của vụ án:
01 ví da nam, màu đen, bề mặt ví có ghi chữ “LACOSTE”, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu BAVATEL, vỏ màu cam, đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Mạnh C là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 98D1-342.97 của chị Quách Thu H, Cơ quan điều tra đã trả chị H là có căn cứ, đúng quy định.
01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Đặng Văn N2, Cơ quan điều tra đã trả lại anh N2 là có căn cứ, đúng quy định.
[8] Những vấn đề khác có liên quan:
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng:
- Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/7/2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nông Trọng N số tiền 200.000 đồng.
- - Bồi thường cho chị Nông Thị B (tức Nông Thị L1) số tiền 14.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 710.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trả lại bị cáo C 01 ví da nam, màu đen, bề mặt ví có ghi chữ “LACOSTE”, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu BAVATEL, vỏ màu cam, đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Mạnh C nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Thu Thuỷ |
Bản án số 227/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 227/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Cường
