|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 227/2024/HN-ST
Ngày: 26/7/2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Phụng, ông Đặng Văn Tâm
Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diễm Thúy, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 74/2024/TLST-HN ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2024/QĐXXST-HN ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trương Bích N, sinh năm 1998, cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: anh Lê Thới B, sinh năm 1991, cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 19/02/2024, nguyên đơn chị Trương Bích N trình bày:
Chị và anh B quen biết nhau sau đó chung sống với nhau từ năm 2021, sau khi có con mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 27/02/2023. Sau khi về sống chung vợ chồng có mâu thuẫn nhưng mà không lớn, đến đầu năm 2023 thì vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và không còn sống chung từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Khi về sống chung với nhau, anh B không lo cho vợ con mà chị có tài sản thì anh B đều đem bán hết và thường xuyên đánh đập chị. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 10/11/2022, hiện đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị phải đi làm ăn xa để có tiền nuôi con nên chị yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt, ngoài ra không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh B. Về quan hệ con chung, chị N được tiếp tục chăm sóc con chung tên Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 10/11/2022, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Trương Bích N có đơn yêu cầu ly hôn với anh Lê Thới B, anh B cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Chị Trương Bích N có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N. Riêng anh Lê Thới B đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh B quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh B là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị N xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh B không lo làm ăn, tài sản trong nhà đều đem bán, thường xuyên đánh đập chị N nên vợ chồng ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống do anh B không lo làm ăn, quan tâm gia đình từ đó vợ chồng ly thân từ tháng 5 năm 2023, hiện nay chị N đã về nhà mẹ ruột sinh sống. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nên chị N yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.
[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con chung Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 10/11/2022, hiện cháu N1 đang sống với chị N. Xét thấy, con chung đang được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, giao cháu Lê Ngọc Huỳnh N1 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị N không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh B không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Bích N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Bích N được ly hôn với anh Lê Thới B.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 27/02/2023 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Trương Bích N và anh Lê Thới B không còn giá trị pháp lý.
- - Về quan hệ con chung:
- Chị Trương Bích N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 10/11/2022. Anh Lê Thới B không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
- Chị Trương Bích N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Thới B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- - Về án phí sơ thẩm:
- Chị Trương Bích N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015044 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 19 tháng 02 năm 2024.
- Anh Lê Thới B không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 227/2024/HN-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 227/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 74/2024/TLST-HN ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2024/QĐXXST-HN ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: chị Trương Bích N, sinh năm 1998, cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt). 2. Bị đơn: anh Lê Thới B, sinh năm 1991, cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
