TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 227/2024/HNGĐ-ST Ngày 21 - 8 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Ảnh
Ông Đỗ Biên Ải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 329/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thanh T, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Ấp Tân Hồng, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: Ấp Tân Điền A, xã Tạ An Khương, huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/7/2024 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Trần Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Bà T với ông Toàn kết hôn vào năm 2007, đăng ký kết hôn tại xã Tạ An Khương Nam, huyện Đ, tỉnh C . Quá trình vợ chồng chung sống thời gian gần đây bất đồng quan điểm, do thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, dẫn đến ông bà ly thân nhiều năm nay. Nay, bà T nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể chung sống cùng nhau được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 26/3/2008; Nguyễn Trâm A, sinh ngày 23/3/2011 và Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 03/10/2012, hiện đang sống cùng bà. Khi ly hôn bà Tiền yêu cầu được tiếp tục nuôi trẻ N, trẻ A và trẻ T ; cấp dưỡng nuôi không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài nợ: Bà T xác định không có.
- Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh T: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T theo quy định pháp luật, nhưng ông T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Vào ngày 15/7/2024 bà T có đơn xin vắng mặt; ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T với ông T kết hôn vào năm 2007, ông bà đăng ký kết hôn ngày 20/4/2007 theo giấy chứng nhận số 64, quyển số 01/2007 tại Uỷ ban nhân dân xã Tạ An Khương Nam, huyện Đ, tỉnh C, hôn nhân ông bà hợp pháp.
Xét bà T yêu cầu ly hôn với ông T thấy rằng, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông Toàn nhiều lần để tham gia hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà T . Ngoài ra, bà T xác định vợ chồng ông bà đã ly thân nhiều năm nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà T với ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông T.
[3] Về nuôi con chung: Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi trẻ Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 26/3/2008, trẻ Nguyễn Trâm A, sinh ngày 23/3/2011 và trẻ Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 03/10/2012. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, theo văn bản ghi nguyện vọng trẻ N, trẻ A, trẻ T ngày 19, 25/7/2024, các trẻ có nguyện vọng ở với bà Tiền nên giao trẻ N, trẻ A, trẻ T cho bà Tiền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà T xác định không có.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà T phải chịu án phí 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh T .
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thanh T ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
2. Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 26/3/2008, trẻ Nguyễn Trâm A, sinh ngày 23/3/2011 và trẻ Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 03/10/2012 cho bà Trần Thanh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông Nguyễn Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thanh T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001527 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Tiền đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Trần Thanh T và ông Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Giang Nam |
Bản án số 227/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 227/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh Tiền. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thanh Tiền ly hôn với ông Nguyễn Thanh Toàn. 2. Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Tuyết Như, sinh ngày 26/3/2008, trẻ Nguyễn Trâm Anh, sinh ngày 23/3/2011 và trẻ Nguyễn Ngọc Trâm, sinh ngày 03/10/2012 cho bà Trần Thanh Tiền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Thanh Toàn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thanh Tiền phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Tiền đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001527 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Tiền đã nộp đủ án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bà Trần Thanh Tiền và ông Nguyễn Thanh Toàn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
