Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2024/HS-PT

Ngày 11/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

***

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hà;

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết;

Bà Phạm Thị Minh Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 234/2024/TLPT-HS ngày 04/10/2024 đối với bị cáo Trần Thị C do có kháng cáo của bị cáo Trần Thị C và các bị hại Hoàng Thị N và Lê Văn P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Thị C, sinh năm 1960; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Đảng viên: là Đảng viên (Nguyên Bí thư chi bộ thôn R, hiện đã bị khai trừ khỏi Đảng theo Quyết định khai trừ số 146-QĐ/UBKTTU ngày 15/3/2024 của Huyện ủy V); nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 7/10; con ông: Trần Văn C1 (đã chết); con bà: Hoàng Thị T, sinh năm 1933; gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Đỗ Văn H, sinh năm 1957; bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1984.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/11/2023 đến ngày 19/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

* Bị cáo không có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng (Nguyên trưởng thôn Rèn); Trình độ học vấn: 7/10; Con ông: Nguyễn Văn N1 và bà: Nguyễn Thị T2; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị X, sinh năm 1974 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1997

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Bản án số 21 ngày 18/5/2010 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội "Đánh bạc"

- Bản án số 117/2012/HSPT ngày 19/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung 3.000.000 đồng về tội "Đánh bạc" nộp tiền phạt và án phí ngày 21/02/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/11/2023 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên toà).

* Các bị hại có kháng cáo:

  1. Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1969; địa chỉ: thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt).
  2. Ông Lê Văn P, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

* Người tham gia tố tụng khác:

Vụ án còn có các bị hại khác và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang tiếp nhận Công văn số 157/TTr ngày 19/6/2023 của Thanh tra huyện V (nay là thị xã V) kèm theo Kết luận thanh tra số 03/KL-TTr về công tác quản lý, sử dụng đất đai tại xã M giai đoạn từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/6/2022 cùng hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc: bà Trần Thị C, sinh năm 1960, nguyên là Bí thư chi bộ, ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971, nguyên là Trưởng thôn Rèn, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn tự tổ chức đấu giá, bán đất ở trái thẩm quyền cho người dân.

Cấp ủy, chi bộ và ban Q, xã M nhiệm kỳ từ năm 2017 đến năm 2022 gồm: Bà Trần Thị C, sinh năm 1960 làm Bí thư chi bộ kiêm Trưởng ban công tác mặt trận (không có Phó Bí thư chi bộ hay ủy viên), ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971 làm Trưởng thôn, ông Thân Văn S, sinh năm 1965 là Phó thôn kiêm Thủ quỹ, ông Lê Minh S1, sinh năm 1950 làm Chi hội trưởng Hội người cao tuổi, ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1959 làm Chi hội trưởng Hội cựu chiến binh, bà Hoàng Thị N, sinh năm 1969 làm Chi hội trưởng Hội phụ nữ, bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1980 là Chi hội phó Hội phụ nữ, ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1987 làm Bí thư Chi đoàn thôn, ông Nguyễn Công T4, sinh năm 1945 được Ban lãnh đạo thôn cử là người giúp việc theo dõi việc thu, chi tiền của thôn R (thường gọi là Kế toán). Trong giai đoạn năm 2017, 2018, thực hiện mục tiêu về đích nông thôn mới nên Ủy ban nhân dân xã M yêu cầu các thôn hoàn thiện các chỉ tiêu đề ra. Đối với thôn R, xã M, do đặc thù là thôn nghèo, Nhà văn hóa cũ (tận dụng nhà kho

trước đây) bị xuống cấp nghiêm trọng nên có chủ trương xây dựng Nhà văn hóa ở vị trí mới nhưng không có tiền để thực hiện. Ban lãnh đạo thôn cùng Chi bộ thôn đã nhiều lần tổ chức họp tìm biện pháp thực hiện và thống nhất giao cho T1 và C đề nghị Ủy ban nhân dân xã M báo cáo cấp trên cho bán khu đất Nhà văn hóa cũ để lấy tiền làm Nhà văn hóa mới, được cấp trên đồng ý thì thực hiện. Thời điểm trên, ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố N, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M thông báo sẽ xin ý kiến Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V) cho tổ chức đấu giá đất xen kẹp để lấy tiền làm Nhà văn hóa, khi nào cấp trên đồng ý thì thông báo lại sau. Tháng 5/2018, Nhà văn H2 thôn R được khởi công xây dựng. Nguồn vốn xây dựng Nhà văn hóa thôn Rèn do cấp trên hỗ trợ và nhân dân đóng góp. Cuối năm 2018, ông L thông báo cho bà C, ông T1 và ông T4 biết việc thôn R phải nộp tiền đối ứng làm Nhà văn hóa tương ứng với 30% (ba mươi phần trăm) giá trị công trình. Do không có tiền nộp tiền đối ứng xây dựng Nhà văn H2, thấy ông L nói Ủy ban xã sẽ xin ý kiến Uỷ ban nhân dân huyện về việc cho giao đất cho người dân; T1 và C thống nhất với nhau là thông báo với Ban lãnh đạo thôn và Chi bộ về việc đấu giá đất Nhà văn hóa thôn đã được Ủy ban xã đồng ý, từ đó đấu giá đất Nhà văn H2 cũ luôn để lấy tiền nộp tiền đối ứng xây dựng, khi nào cấp trên đồng ý thì sẽ làm hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá.

Tại cuộc họp toàn dân của thôn Rèn ngày 05/11/2018, lúc này có Cảnh tham gia, khi đưa ra việc đấu giá Nhà văn H2 cũ lấy tiền đối ứng xây Nhà văn hóa mới, T1 thông báo việc này đã được Ủy ban nhân dân xã M đồng ý thì được người dân nhất trí. Sau đó, cuộc họp bầu ra hội đồng đấu giá gồm: Nguyễn Văn T1- Trưởng thôn là Trưởng ban, ông Nguyễn Công T4 là thư ký, Trần Thị C, ông Lê Minh S1, ông Thân Văn S, ông Nguyễn Xuân H1, bà Nguyễn Thị Đ là ủy viên. Việc bán đất được thực hiện theo hình thức đấu giá, trả giá bỏ phiếu kín, ai trả giá cao sẽ được mua, người tham gia đấu giá gặp ông T4 để làm đơn đăng ký, gặp ông Thân Văn S để nộp số tiền 15.200.000 đồng (trong đó: 15.000.000 đồng là tiền đặt cọc cho việc đấu giá, nếu không trúng đấu giá sẽ được trả lại và 200.000 đồng là tiền hồ sơ thực hiện đấu giá).

Ngày 27/11/2018, tại hội trường Nhà văn hóa mới, T1, C cùng những người khác trong Ban đấu giá đất của thôn R đã tổ chức đấu giá giao đất Nhà văn hóa cũ (bán đất ở) có tổng diện tích 139,20m² cho người dân. Những người tham gia đấu giá mua đất Nhà văn hóa cũ có 04 người, trong đó có bà Hoàng Thị N. Kết quả bà Hoàng Thị N là người trúng đấu giá mua được đất nhà văn hóa cũ với số tiền 139.834.000 đồng. Ông T4, đã lập biên bản kết quả đấu giá tài sản thành nhiều bản, ông T4 và những người tham gia đấu giá ký tên xác nhận phía dưới, bà N được giữ một bản, các bản còn lại ông T4 giữ. Sau đó, bà N đã nộp trước tiền trúng đấu giá đất là 100.000.000 đồng cho ông Thân Văn S. Ngày 08/12/2018, T1 cùng các thành viên khác trong Ban lãnh đạo thôn Rèn gồm: ông T4, ông Thân Văn S, ông Lê Minh S1, ông H1 tổ chức đo và giao đất Nhà văn H2 cũ cho gia đình bà N.

Ngày 20/12/2018, bà N nộp cho ông T4 số tiền mua đất Nhà văn hóa cũ còn lại là 39.834.000 đồng. Ông T4 viết phiếu thu số 133, đề ngày 20/12/2018 nội dung “Hoàng Thị N thôn R nộp tiền mua Đấu giá Nhà+ đất hội trường cũ của thôn 139.834.000 đồng (một trăm ba mươi chín triệu tám trăm ba mươi tư nghìn đồng)”;

ông T4 giữ phiếu thu gốc và giao phiếu thu bản in giấy than cho bà N. Từ đó, gia đình bà N quản lý và sử dụng khu đất Nhà văn hóa cũ của thôn R. Năm 2023, bà N đã dọn dẹp mặt bằng diện tích đất đã mua để xây dựng công trình nhưng Ủy ban nhân dân xã M đã lập biên bản và yêu cầu dừng các hoạt động xây dựng trái phép. Hiện bà N chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất Nhà văn hóa cũ đã mua đấu giá, bà N và gia đình vẫn đang sinh sống trên diện tích đất này.

Ngoài ra, trong các năm 2018 và 2019, để có tiền xây dựng các công trình của thôn phục vụ cho việc xây dựng nông thôn mới, C và T1 đã tổ chức họp quân dân chính đảng gồm toàn thể các Đảng viên và các trưởng ban ngành đoàn thể, mục đích tìm nguồn thu. Tại cuộc họp, ông T1 đưa ra ý kiến về việc giao thầu đất dài hạn đất 5% cho người dân có nhu cầu để lấy tiền phục vụ cho xây dựng, hoạt động của thôn. Lúc này, có ý kiến yêu cầu ông T1 phải xin ý kiến cho phép giao thầu của Ủy ban nhân dân xã M theo quy định của pháp luật thì mọi người đều đồng tình nhất trí. T1 đã bàn với C về việc nếu xin ý kiến của Uỷ ban nhân dân xã thì chỉ được giao thầu trong thời gian 05 năm, thôn chỉ được nhận lại 40% số tiền thu được nên C, T1 đã thống nhất cho để T1 tự tổ chức đấu thầu, giao thầu đất 5% dài hạn theo nhu cầu của người dân, không thông báo cho Ủy ban nhân dân xã B. Để thuận lợi cho việc giao thầu đất 5%, T1 thông báo cho người dân và Ban lãnh đạo thôn việc giao thầu đất 5% được Ủy ban xã cho phép. Mỗi lần giao thầu đất cho người dân, T1 đều xin ý kiến, thống nhất với C từ trước. Sau đó, T1 đã tiến hành giao thầu đất 5% ở thôn R cho 04 hộ dân, lấy tiền nộp vào quỹ của thôn R để chi tiêu cho việc xây dựng, hoạt động của thôn R, cụ thể:

Ngày 23/01/2018 tại Nhà văn hóa cũ thôn R, T1 cùng Ban lãnh đạo thôn R đã tổ chức đấu thầu 20 năm đối với 3.433m² đất 5% ở khu đồng “Sậu” cho người dân. Kết quả, ông Lê Văn P, sinh năm 1984, trú tại thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V) là người trúng thầu với số tiền 98.450.000 đồng. Ngày 30/01/2018, T1 đã ký Hợp đồng giao thầu diện tích 3.433 m² đất xứ đồng “Sậu” cho ông P, gồm 12 thửa: số 124, 125, 126, 130, 131, 132, 133, 134, 135, 136, 137, 138, thời hạn sử dụng đến năm 2038. Sau đó, ông P đã nộp tiền thầu đất làm ba lần với tổng số tiền 98.450.000 đồng cho Ban lãnh đạo thôn Rèn do ông T4 là người viết phiếu thu tiền, cụ thể: ngày 12/02/2018 nộp 30.000.000 đồng; ngày 15/4/2018 nộp 64.650.000đồng, ngày 16/4/2018 nộp 3.800.000 đồng. Từ đó gia đình ông P quản lý và sử dụng diện tích đất nhận thầu trên đến thời điểm hiện tại để trồng cây nông nghiệp hàng năm và không cải tạo hay làm biến đổi hiện trạng sử dụng đất ban đầu.

Ngày 12/9/2019, T1 ký Hợp đồng giao thầu không có thời hạn (không tổ chức đấu thầu) cho ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1959, trú tại thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V) diện tích 400m² đất 5% ở “Thùng Đấu”, “Cầu Vồng” với số tiền 27.076.000 đồng, thời điểm giao thầu tính từ ngày 12/9/2019. Cùng ngày 12/9/2019, ông M đã nộp 27.076.000 đồng cho thôn R do ông S1 làm thủ quỹ nhận tiền có xác nhận của T1, ông T4 trong phiếu thu tiền. Hiện tại, diện tích đất trên, gia đình ông M đang quản lý và sử dụng để nuôi cá và không cải tạo hay làm biến đổi hiện trạng sử dụng đất.

Ngày 30/12/2019, T1 ký Hợp đồng giao thầu (không tổ chức đấu thầu) cho

ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1973, trú tại thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V) diện tích 889 m² đất 5% ở xứ đồng “dộc cổng làng” có thời hạn 49 năm, với số tiền là 30.000.000 đồng. Cùng ngày 30/12/2019, ông H3 đã nộp 30.000.000 đồng cho ông T1, có xác nhận của ông T4 trong phiếu thu tiền. Hiện tại diện tích đất trên, gia đình ông H3 đang quản lý và sử dụng để trồng cây nông nghiệp và nuôi cá, không cải tạo hay làm biến đổi hiện trạng sử dụng đất.

Ngày 30/12/2019, T1 ký Hợp đồng giao thầu (không tổ chức đấu thầu) không có thời hạn cho ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1976, trú tại thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V) diện tích 720 m² đất 5% ở xứ đồng “dộc cổng làng” với số tiền là 40.000.000 đồng. Cùng ngày 30/12/2019, ông T5 đã nộp 30.000.000 đồng cho ông T1, có xác nhận của ông T4 trong phiếu thu tiền. Hiện tại diện tích đất trên, gia đình ông T5 đang quản lý và sử dụng để nuôi cá, không cải tạo hay làm biến đổi hiện trạng sử dụng đất.

Tổng số tiền thu được từ việc giao thầu đất 5% trái thẩm quyền của T1, C cho ông P, ông M, ông H3 và ông T5 là 195.526.000 đồng, đều được nhập vào quỹ của thôn R để sử dụng, không nộp về ngân sách của Ủy ban nhân dân xã M.

Năm 2022, Thanh tra huyện V (nay là thị xã V) tiến hành thanh tra công tác quản lý và sử dụng đất đai tại xã M và phát hiện các bị cáo Trần Thị C, Nguyễn Văn T1 có hành vi bán, giao đất trái thẩm quyền cho người dân. Ngày 04/7/2023, Thanh tra huyện V đã chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan đến hành vi bán, giao đất trái thẩm quyền của Trần Thị C, Nguyễn Văn T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V (nay là thị xã V) để điều tra theo thẩm quyền, trong đó có: 01 Biên bản bàn giao nhà kèm theo đất hội trường cũ thôn R đề ngày 08/12/2018 có chữ viết trên biên bản là chữ phô tô, có chữ ký của Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân H1, Lê Văn S2, Thân Văn S, Nguyễn Công T4, Nguyễn Thị Đ và Hoàng Thị N (ký hiệu A34); 01 Biên bản kết quả đấu giá tài sản ngày 27/11/2018 của Hội đồng đấu giá thôn R, xã M có chữ ký, viết tên của Hội đồng đấu giá gồm Trần Thị C, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân H1, Lê Văn S2, Nguyễn Công T4, Nguyễn Thị Đ và của người tham gia đấu giá gồm Hoàng Thị N, Thân Văn S, Lương Thị H4 và Nguyễn Văn C2 (ký hiệu A40).

Ngày 26/7/2023, bà Hoàng Thị N giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 bản Quy chế đấu giá tài sản đề ngày 15/11/2018 của Ban quản lý thôn Rèn, phía dưới có chữ ký của Trưởng thôn là ông Nguyễn Văn T1 (ký hiệu A18); 01 Biên bản kết quả đấu giá tài sản ngày 27/11/2018 của hội đồng đấu giá thôn R, xã M có chữ ký, viết tên của Hội đồng đấu giá gồm Trần Thị C, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân H1, Lê Văn S2, Nguyễn Công T4, Nguyễn Thị Đ và của người tham gia đấu giá gồm Hoàng Thị N, Thân Văn S, Lương Thị H4 và Nguyễn Văn C2 (ký hiệu giám định A38); 01 phiếu thu số 133 ngày 20/12/2018 nội dung: “Hoàng Thị N thôn R nộp tiền mua Đấu giá Nhà+ đất hội trường cũ của thôn 139.834.000 đồng”, có chữ ký của Nguyễn Văn T1, Thân Văn S, T4 và Hoàng Thị N (ký hiệu A8); 01 giấy đề nội dung “Hồ sơ tài sản” ngày 15/11/2018 phía dưới có chữ ký của Trưởng thôn là ông Nguyễn Văn T1 (ký hiệu A19).

Ngày 08/8/2023, ông Nguyễn Công T4 giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 quyển vở nhãn hiệu Hải Tiến, gồm 17 tờ có nội dung được thể hiện việc theo dõi thu, chi tiền quỹ thôn R, xã M từ năm 2019 đến năm 2021; 01 phiếu thu số 01

quyển số 01 ngày 12/02/2018, nội dung Lê Văn P thôn Rèn Minh Đ1, V, Bắc Giang nộp tiền thầu ruộng đất 5% của thôn số tiền 30.000.000 đồng (ký hiệu A13); 01 phiếu thu số 02 ngày 15/04/2018, nội dung Lê Văn P thôn R nộp tiền thầu đất 5% sứ đồng “đồi Sậu” số tiền 64.650.000 đồng (ký hiệu A14); 01 phiếu thu số 03 ngày 16/04/2018, nội dung Lê Văn P thôn R nộp tiền thầu ruộng đất 5% sứ đồng “đồi Sậu” số tiền 3.800.000 đồng (ký hiệu A15); 01 phiếu đấu thầu đất 05% thôn R của Lê Văn P (ký hiệu A4); 01 phiếu chi số 39 ngày 01/2/2019 nội dung người nhận tiền: Thân Văn S- Phó thôn R, lý do chi: trả tiền đối ứng xây dựng nhà văn hóa thôn R cho cai xây dựng Thân Quang K số tiền 120.000.000 đồng kèm theo giấy duyệt chi (ký hiệu A5); 01 phiếu chi số 30 ngày 30/7/2020 nội dung người nhận tiền: Nguyễn Văn T1- Trưởng thôn R. Lý do chi: Nộp tiếp tiền đối ứng xây dựng nhà văn hóa thôn số tiền 60.000.000 đồng kèm theo giấy biên nhận (ký hiệu A6); 01 (một) phiếu thu số 133 ngày 20/12/2018 nội dung "Hoàng Thị N thôn R nộp tiền mua Đấu giá Nhà+ đất hội trường cũ của thôn 139.834.000 đồng (ký hiệu A8); 02 Biên bản kết quả đấu giá tài sản ngày 27/11/2018 của Hội đồng đấu giá thôn R, xã M (gồm 04 tờ) (ký hiệu giám định A39, A41); 02 Biên bản bàn giao nhà kèm theo đất hội trường cũ thôn R đề ngày 08/12/2018 (gồm 02 tờ) có chữ viết trên biên bản là chữ phô tô, chữ ký phía dưới biên bản do những người có tên ký trực tiếp vào biên bản xác nhận nội dung (ký hiệu A32, A33); 04 phiếu đấu giá đề ngày 27/11/2018 của người đấu giá: Hoàng Thị N, Thân Văn S, Lương Thị H4 và Nguyễn Văn C2 (trong đó 03 phiếu đấu giá của Hoàng Thị N, Thân Văn S, Lương Thị H4 (ký hiệu A1, A2, A3); 04 đơn xin đăng ký đấu giá quyền sử dụng đất lâu dài nhà và khu đất hội trường cũ thôn R của người đăng ký: Hoàng Thị N, Thân Văn S, Lương Thị H4 và Nguyễn Văn C2 (trong đó 03 phiếu đấu giá của Hoàng Thị N, Thân Văn S, Lương Thị H4 được ký hiệu giám định A35, A36, A37); 01 phiếu thu số 34 ngày 30/12/2019 nội dung “Nguyễn Văn H3 thôn R nộp tiền thầu thùng ra hạn đến năm 2072, số tiền 30.000.000 đồng có chữ ký và viết tên Nguyễn Văn T1, T4 và Nguyễn Văn H3 (ký hiệu A9); 01 đơn đề nghị cho thuê đất công ích đề ngày 25/11/2019 của ông Nguyễn Văn H3 (ký hiệu A25); 01 hợp đồng thuê đất giữa ông Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn H3 có thời hạn hợp đồng đến ngày 31/12/2072 nội dung thể hiện bằng chữ đánh máy và chữ viết tay phô tô ( ký hiệu A21); 01 bản phô tô biên bản hội nghị dân chính Đảng thôn Rèn ngày 10/10/2019 có chữ ký và ghi tên Trần Thị C, Nguyễn Văn T1, Thân Văn S, Nguyễn Xuân H1, Lê Minh S1, Hoàng Thị N (ký hiệu A29); 01 phiếu thu số 35 ngày 30/12/2019 nội dung “Nguyễn Văn T5 thôn R nộp tiền thầu dài hạn hai sào thùng ven hồ, 1 sào = 20.000.000 x 2 = 40.000.000 đồng, số tiền 40.000.000 đồng, có chữ ký và ghi tên Nguyễn Văn T1, T4 và Nguyễn Văn T5 ( ký hiệu A10); 01 đơn đề nghị cho thuê đất công ích đề ngày 25/12/2019 của ông Nguyễn Văn T5 (ký hiệu A28); 01 hợp đồng thuê đất ngày 25/12/2019 không thể hiện thời hạn hợp đồng, nội dung thể hiện bằng chữ đánh máy và chữ viết tay phô tô, có chữ ký và viết tên của bên thuê đất là Nguyễn Văn T5, bên cho thuê đất là Nguyễn Văn T1 (ký hiệu A24); 01 bản phô tô biên bản hội nghị dân chính Đảng thôn Rèn ngày 10/10/2019 có chữ ký và ghi tên Trần Thị C, Nguyễn Văn T1, Thân Văn S, Nguyễn Xuân H1, Lê Minh S1, Hoàng Thị N (ký hiệu A30); 01 phiếu thu số 33 ngày 12/9/2019 nội dung “Nguyễn Văn M thôn R nộp tiền thuê đất công ích 5% lâu dài (Thùng đấu) 400 mét vuông,

số tiền 27.076.000 đồng” (ký hiệu A12); 01 đơn đề nghị cho thuê đất công ích đề ngày 10/9/2019 của ông Nguyễn Văn M (ký hiệu A26); 01 hợp đồng thuê đất ngày 10/9/2019 không thể hiện thời hạn hợp đồng, nội dung thể hiện bằng chữ đánh máy và chữ viết tay có chữ ký và viết tên của bên thuê đất là Nguyễn Văn M, bên cho thuê đất là Nguyễn Văn T1 (ký hiệu A22); 01 bản phô tô biên bản hội nghị dân chính về việc giao ký hợp đồng thuê đất công ích tại xứ đồng Chuôm (có chữ ký của Trần Thị C, Nguyễn Văn T1, ông Thân Văn S, ông Lê Minh S1, ông Nguyễn Xuân H1, bà Hoàng Thị N); 01 quyển vở nhãn hiệu Hải Tiến, gồm 38 tờ được đánh số thứ tự từ 01 đến 38 ở bên phải, thể hiện việc theo dõi thu, chi tiền quỹ của thôn R, xã M từ năm 2013 đến năm 2018.

Ngày 16/8/2023, ông Lê Văn P giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 phiếu thu số 01 quyển số 01 ngày 12/02/2018, nội dung: “Lê Văn P thôn R Yên B nộp tiền thầu ruộng đất 5% của thôn số tiền 30.000.000 đồng”, bản in giấy than; 01 phiếu thu số 02 ngày 15/04/2018, nội dung: “Lê Văn P thôn R nộp tiền thầu đất 5% sứ đồng đồi Sậu số tiền 64.650.000 đồng”, bản in giấy than; 01 phiếu thu số 03 ngày 16/04/2018, nội dung: “Lê Văn P thôn R nộp tiền thầu ruộng đất 5% sứ đồng đồi Sậu số tiền 3.800.000 đồng”, bản in giấy than; 01 hợp đồng thầu khoán quỹ đất 5% tại xứ đồng Sậu, thôn R ngày 30/01/2018 có chữ ký và viết tên của Nguyễn Văn T1 và ông Lê Văn P (ký hiệu A17); 01 biên bản bàn giao diện tích đấu thầu đất 5% khu đồng “đồi Sậu” giữa Nguyễn Văn T1 và ông Lê Văn P có ký và viết tên Nguyễn Văn T1, ông Lê Văn P và người lập biên bản Nguyễn Công T4 (ký hiệu A16); Bản thanh toán tiền ruộng 5% ngày 15/04/2018 do ông T4 lập (ký hiệu A20).

Ngày 22/8/2023, ông Nguyễn Văn T5 giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 phiếu thu số 35 ngày 30/12/2019 nội dung: “Nguyễn Văn T5 thôn R nộp tiền thầu dài hạn hai sào thùng, số tiền 40.000.000 đồng”, bản in giấy than; 01 đơn đề nghị cho thuê đất công ích đề ngày 25/12/2019 của ông Nguyễn Văn T5 (ký hiệu A27); 01 hợp đồng thuê đất công ích không thể hiện thời hạn hợp đồng, nội dung thể hiện bằng chữ đánh máy và chữ viết tay phô tô, có chữ ký và viết tên của bên thuê đất là Nguyễn Văn T5, bên cho thuê đất là Nguyễn Văn T1 (ký hiệu A23); 01 bản phô tô biên bản hội nghị dân chính Đảng thôn Rèn ngày 10/10/2019 có chữ ký và ghi tên Trần Thị C, Nguyễn Văn T1, Thân Văn S, Nguyễn Xuân H1, Lê Minh S1, Hoàng Thị N (ký hiệu A31).

Tại bản Kết luận giám định số 1579/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng K1- Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Ngữ - Hoàng Thị N" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) và dưới các mục "Người nộp", "Các thành phần cùng tham gia", "Thư ký", "Các ông (bà) tham gia đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A7, A8, A29 đến A34, A38 dến A41) so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Thị N trên tài liệu mẫu (ký hiệu M66) là do cùng một người ký, viết ra. - Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Ngữ - Hoàng Thị N" dưới mục "Người đăng ký" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A35) so với Chữ ký, Chữ viết của Hoàng Thị N trên tài liệu mẫu (ký hiệu M66) là không phải do cùng một người ký, viết ra.

2. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "S1 - Thân Văn S", "S -

Thân V Sơn" dưới các mục "Người đấu giá", "Thủ quỹ", "Người nhận tiền", "Các thành phần tham gia", "Mọi người ký tên làm bằng", "Người đăng ký", "Các ông (bà) tham gia đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A5, A7, A8, A12, A14, A15, A29 đến A34, A36, A38 đến A41); "Sơn" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A13) so với chữ ký, chữ viết của Thân Văn S trên tài liệu mẫu (ký hiệu M64) là do cùng một người ký, viết ra.

3. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "H4 - Lương Thị H4" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) và dưới mục "Các ông (bà) tham gia đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A38 dến A41) so với Chữ ký, Chữ viết của Lương Thị H4 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M61) là do cùng một người ký, viết ra.

4. Chữ viết có nội dung "Lê Văn P" dưới mục "Người thả thầu" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4); "P - Lê Văn P" dưới các mục "Người nộp", "Bên nhận", "Người trúng thầu" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A13 đến A17) so với chữ ký, chữ viết của Lê Văn P trên tài liệu mẫu (ký hiệu M70) là do cùng một người ký, viết ra.

5. Chữ ký, Chữ viết mang tên Nguyễn Văn T1 dưới các mục "Thủ trưởng đơn vị", "Thủ quỹ", "Trưởng thôn", "TM ban quản lý - Trưởng thôn", "Các thành phần tham gia", "Mọi người ký tên làm bằng", "Hội đồng đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A7 đến A12, A16 đến A19, A21 đến A24, A31 đến A34, A38 đến A41) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T1 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M59) là do cùng một người ký, viết ra.

6. Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị C dưới các mục "Thủ quỹ", "Chủ trì hội nghị", "Hội đồng đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A6, A29, A30, A31, A38 đến A41) so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị C trên tài liệu mẫu (ký hiệu M60) là do cùng một người ký, viết ra. - Phòng K1 - Công an tỉnh B không kết luận giám định chữ ký mang tên Trần Thị C dưới mục "Trưởng thôn" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A20) do chữ ký bị sửa chữa, đặc điểm chồng chéo, không đủ cơ sở kết luận giám định.

7. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "H3 - Ng Văn H5", "Nguyễn Văn H3" dưới các mục "Người nộp", "Bên thuê đất", "Người làm đơn" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A9, A21, A25) so với chữ ký, chữ viết của Nguyên Văn H6 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M69) là do cùng một người ký, viết ra.

8. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Thuận" dưới các mục "Người nộp", "Bên thuê đất" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A10, All, A23, A24); "T5 - Nguyễn Văn T5" dưới các mục "Người làm đơn" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A27, A28); "Nguyễn Văn T5 - Thuận" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A31) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T5 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M68) là do cùng một người ký, viết ra.

9. Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn M dưới các mục "Người nộp", "Bên thuê đất", "Người làm đơn" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A12, A22, A26) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn M trên tài liệu mẫu (ký hiệu M67) là do cùng một người ký, viết ra.

10. Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Xuân H1 dưới các mục "Các thành phần cùng tham gia", "Mọi người ký tên làm bằng", "Hội đồng đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A29 đến A34, A3 8 đến A41) so với chữ ký, chữ

viết của Nguyễn Xuân H1 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M62) là do cùng một người ký, viết ra.

11. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Đơn - Nguyễn Thị Đ" dưới các mục "Mọi người ký tên làm bằng", "Hội đồng đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A32, A33, A34, A38 đến A41) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Đ trên tài liệu mẫu (ký hiệu M63) là do cùng một người ký, viết ra.

12. Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Minh S1 dưới các mục "Các thành phần cùng tham gia", "Mọi người ký tên làm bằng" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A29 đến A34); chữ ký, chữ viết mang tên Lê S1 dưới mục "Hội đồng đấu giá" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A38 đến A41) so với chữ ký, chữ viết của Lê Minh S1 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M65) là do cùng một người ký, viết ra.

13. Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A5 - trừ chữ ký, chữ viết dưới các mục "Thủ quỹ", "Người nhận tiền"); chữ ký, chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A6 đến A17, A20, A22- trừ chữ ký, chữ viết dưới các mục "Thủ trưởng đơn vị", "Người nhận", "Người nộp", "Thủ quỹ", "Bên nhận", "Trưởng thôn", "Người trúng thầu", "Bên thuê đất", "Bên cho thuê đất" và chữ viết có nội dung "S1 - S1 đã nhận của ông T4 20.000.000" trên tài liệu cần giám định AI3); chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A23, A24, A27, A28 - trừ chữ ký, chữ viết dưới các mục "Bên thuê đất", "Bên cho thuê đất", "Người làm đơn"); chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Công T4 dưới mục "Hội đồng đấu giá" và chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A38 đến A41 - trừ chừ ký, chữ viết dưới mục "Các ông (bà) tham gia đấu giá" và chữ ký, chữ viết mang tên Lê S1, Trần Thị C, Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Xuân H1 dưới mục "Hội dồng đấu giá") so với Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M55) và chữ ký, chữ viết của Nguyễn Công T4 trên các tài liệu mầu (ký hiệu M56, M57, M58) là do cùng một người ký, viết ra.”

Ngày 16/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V có Yêu cầu định giá tài sản số 1897b/YC-CQĐT yêu cầu xác định giá giao thầu đối với các diện tích đất do bị cáo T1, C giao thầu cho các ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn T5 và Lê Văn P sử dụng từ năm 2018 và 2019.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V, kết luận: Quyền thuê đất 5% thửa đất số 86, 105, 141, 142, 158, 195 tờ bản đồ địa chính xã M số 39 (lập năm 2019) diện tích 3.433 m² trong thời hạn từ tháng 12/2018 đến nay (5,5 năm) là 18.867.392 đồng; Quyền thuê đất 5% một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ địa chính xã M số 28, diện tích 400 m² trong thời hạn từ tháng 9/2019 đến nay (4,75 năm) là 1.442.542 đồng; Quyền thuê đất 5% một phần thửa đất số 107, 109, tờ bản đồ địa chính xã M số 40 (lập năm 2019), diện tích 889 m² trong thời hạn từ tháng 12/2019 đến nay (4,5 năm) là 3.996.847 đồng; Quyền thuê đất 5% một phần thửa đất số 178, tờ bản đồ địa chính xã M số 40 (lập năm 2019) diện tích 720 m² trong thời hạn từ tháng 12/2019 đến nay (4,5 năm) là 2.460.151 đồng. Tổng số tiền thuê đối với các diện tích đất trên là 26.766.932 đồng.

Đối với số tiền 335.360.000 đồng (trong đó: 139.834.000 đồng là tiền bán đất nhà văn hóa cũ cho bà Hoàng Thị N và 195.526.000 đồng là tiền giao thầu đất

cho ông P, ông M, ông H3 và ông T5), Ban lãnh đạo thôn R đưa cho ông Thân Quang K, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã H, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang (là người ký hợp đồng xây dựng Nhà văn hóa thôn Rèn với Ủy ban nhân dân xã M) số tiền 180.000.000đồng; số tiền còn lại được nhập quỹ thôn và chi hết cho việc xây dựng tường, cổng, làm đường vào nhà văn hóa, dọn mương, lắp điện chiếu sáng đường thôn,...Việc thu, chi tiền đều được Ban lãnh đạo thôn bàn thống nhất với T6 ban ngành đoàn thể và được thông qua tại các cuộc họp thôn, có tài liệu chứng minh. Tổng chi của thôn R trong các năm 2018, 2019 và 2020 là 222.658.000 đồng (Trong đó có số tiền còn lại do giao, bán đất trái thẩm quyền).

Quá trình điều tra vụ án còn xác định: Năm 1992, ông Nguyễn Anh T7, sinh năm 1940 (đã chết ngày 17/9/2023) là Trưởng thôn Rèn. Thời điểm này, thôn R cần tiền để làm trạm, đường điện nhưng không có nguồn để thực hiện. Ông T7 đã tổ chức đấu thầu diện tích 1.500 m² đất tại sứ đồng “Thùng Đấu”, “Cầu Vồng” và diện tích 1.609 m² đất ở khu cổng làng, giáp hồ thôn R với thời hạn là 15 năm từ năm 1993 đến năm 2007. Kết quả đấu thầu thì ông Nguyễn Văn T8, sinh năm 1964, trú tại: thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V) đã trúng thầu 1.500 m² đất tại sứ đồng “Thùng Đấu”, “Cầu Vồng”; ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1934 ở thôn R, xã M (hiện đã chết) trúng thầu 1.609 m² đất ở khu cổng làng, giáp hồ thôn R, tổng số tiền thu được là 26.000.000 đồng. Sau khi trúng thầu và nộp tiền, ông T7 đã thực hiện giao đất cho các cá nhân trên sử dụng để nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2004, ông Nguyễn Văn T8 - làm Trưởng thôn Rèn, do cần tiền làm mương máng cho thôn nên thông báo tổ chức đấu thầu, giao thầu trước diện tích đất trên (ông T8 và ông L1 đang sử dụng), thời gian giao thầu tiếp là 15 năm từ năm 2007 đến năm 2022. Kết quả, ông T8 và ông L1 tiếp tục trúng thầu với tổng số tiền là 26.100.000 đồng, được sử dụng đất tiếp từ năm 2007 đến năm 2022. Toàn bộ số tiền trên, đã được nhập vào quỹ thôn và chi tiêu cho xây dựng thôn R hết.

Đối với hành vi giao thầu đất trái thẩm quyền năm 1992, 2004 của ông T7, ông T8 có dấu hiệu phạm vào tội “Lạm quyền trong thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 282 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, ông T7 đã chết; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông T8 đã hết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với ông Nguyễn Tiến L không đồng ý và không giúp sức cho các bị cáo giao, bán đất trái thẩm quyền nên không phạm tội.

Đối với các ông Thân Văn S, Lê Minh S1, Nguyễn Xuân H1, bà Hoàng Thị N và bà Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Công T3, Nguyễn Công T4 mặc dù đã đồng ý, tham gia việc đấu giá đất, giao đất đấu thầu nhưng trước đó đều thống nhất trong cuộc họp yêu cầu Nguyễn Văn T1 và Trần Thị C phải xin ý kiến của Ủy ban nhân dân xã M và thực hiện theo chỉ đạo cấp trên theo quy định của pháp luật; khi tham gia tổ chức đấu giá, giao thầu đất do T1, C thông báo đã được sự đồng ý của cấp trên nên những người này không phạm tội, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Quá trình thanh tra, Thanh tra huyện V (nay là thị xã V) đã ra Quyết định số 16/QĐ-TTr ngày 15/6/2023 thu hồi số tiền 180.000.000 đồng của ông Thân Quang K do Ban lãnh đạo thôn R, xã M giao đất ở, giao thầu đất công ích trái thẩm quyền. Ngày 20/02/2024, Thanh tra thị xã V đã chuyển số tiền trên đến Cơ quan Cảnh sát

điều tra- Công an thị xã V. Ngày 18/12/2023, anh Đỗ Văn H7, sinh năm 1980, trú tại thôn R, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang là con trai bị cáo C đã nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 100.000.000 đồng để khắc phụ hậu quả cho Trần Thị C; bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1947, trú tại thôn C, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang là mẹ bị cáo T1 đã nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 55.360.000 đồng để khắc phụ hậu quả cho Nguyễn Văn T1. Toàn bộ số tiền trên, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định pháp luật; số giấy tờ thu giữ nêu trên được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xử:

Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 357; điểm b, điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị C 03 (ba) năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/11/2023 đến ngày 19/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: buộc các bị cáo phải bồi thường cho nhà nước 26.766.932đồng; bồi thường cho hộ gia đình bà Hoàng Thị N số tiền 139.834.000 đồng, cho ông Lê Văn P số tiền 79.582.608 đồng, cho ông Nguyễn Văn M số tiền 25.633.458 đồng, cho ông Nguyễn Văn H3 số tiền 26.003.153 đồng, cho ông Nguyễn Văn T5 số tiền 37.539.849 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 04 năm tù; tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử xong:

- Ngày 26/8/2024 bị cáo Trần Thị C kháng cáo với nội dung kháng cáo: xin giảm nhẹ hình phạt đề nghị được cải tạo tại địa phương.

- Ngày 28/8/2024 bị hại là bà Hoàng Thị N và ông Lê Văn P kháng cáo. Nội dung kháng cáo: đề nghị các bị cáo phải khắc phục hậu quả cho bị hại theo lãi suất ngân hàng, khắc phục hậu quả theo giá đất hiện tại, khắc phục công sức cải tạo xây dựng trên đất mà lãnh đạo thôn R đã cho bị hại thầu.

* Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo trình bày: Án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo thấy mục đích bị cáo làm chỉ vì lợi ích của người dân, bị cáo không được hưởng lợi gì. Bị cáo đã khắc phục hậu quả hết cho các hộ dân, cá nhân bị cáo đã bồi thường 135.000.000đồng; bị cáo được tặng bằng khen của Hội L2 vì đạt danh hiệu “phụ nữ 05 năm tiêu biểu toàn quốc” giai đoạn 2006-2011, được Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bắc Giang tặng bằng khen vì đạt danh hiệu “Cán bộ cơ sở giỏi”, được tặng giấy khen năm 2022 vì có thành tích xuất sắc trong phòng chống covid.

Bị hại Hoàng Thị N trình bày: bà xin rút toàn bộ kháng cáo, việc xin rút kháng cáo của bà là hoàn toàn tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo C. Bà sẽ làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thủ tục khác.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm

tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX:

  1. Tại phiên toà bị hại Hoàng Thị N đã rút toàn bộ kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà N.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của bị hại Lê Văn P.
  3. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm e khoản 1 Đều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị C 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện V giám sát giáo dục, trong thời gian thử thách. Án sơ thẩm tuyên hình phạt bổ sung: Cấm các bị cáo đảm nhiệm chức vụ trong quản lý nhà nước là 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù là chưa chính xác, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm về nội dung này.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị hại Lê Văn P không được chấp nhận nên ông P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Kháng cáo của bị cáo C được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Trần Thị C tranh luận: đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo tuổi đã cao, bị cáo không hiểu biết pháp luật chỉ vì mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo và các bị hại đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: bị hại Lê Văn P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự; các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không triệu tập.

[3] Xét hành vi của các bị cáo:

Năm 2018, 2019, do cần nguồn tiền để xây dựng Nhà văn H2 và các công trình khác của thôn để về đích nông thôn mới. Lúc này, Trần Thị C làm Bí thư Chi bộ, Nguyễn Văn T1 làm Trưởng thôn Rèn đã thống nhất cùng nhau 04 lần giao thầu đất 5%, bán đất ở trái thẩm quyền cho người dân, cụ thể:

Ngày 23/01/2018, Trần Thị C và Nguyễn Văn T1 đã giao thầu 20 năm đối với 3.433m² đất 5%, ở khu đồng “Sậu” cho ông Lê Văn P làm đất nông nghiệp, thu số tiền 98.450.000 đồng.

Ngày 27/11/2018, Trần Thị C và Nguyễn Văn T1 tổ chức đấu giá, bán đất Nhà văn hóa cũ của thôn R có tổng diện tích 139,20m² làm đất ở cho bà Hoàng Thị N với số tiền 139.834.000 đồng.

Ngày 12/9/2019, Trần Thị C và Nguyễn Văn T1 đã giao thầu không có thời hạn đối với diện tích 400m² đất 5% ở “Thùng Đấu”, “Cầu Vồng” cho ông Nguyễn Văn M làm đất nuôi cá, thu số tiền 27.076.000 đồng.

Ngày 30/12/2019: Trần Thị C và Nguyễn Văn T1 giao thầu có thời hạn 49 năm đối với diện tích 889 m² đất 5% ở xứ đồng “dộc cổng làng” cho ông Nguyễn Văn H3 làm đất trồng cây và nuôi cá, thu số tiền 30.000.000 đồng; Giao thầu không có thời hạn diện tích 720 m² đất 5% ở xứ đồng “dộc cổng làng” cho ông Nguyễn Văn T5 làm đất nuôi cá, thu số tiền 40.000.000đồng.

Toàn bộ diện tích đất trên, những người mua, nhận giao thầu chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng số tiền thu được từ việc giao thầu, bán đất trái thẩm quyền là 335.360.000 đồng. Số tiền trên, T1, C không nộp vào ngân sách Nhà nước, tự giữ lại tại thôn rồi sử dụng vào xây dựng Nhà văn H2, hoạt động của thôn R.

Hành vi của Trần Thị C, Nguyễn Văn T1 trong việc giao thầu, bán đất trái phép đã gây thiệt hại cho Nhà nước 26.766.932 đồng; gây thiệt hại cho hộ gia đình bà Hoàng Thị N số tiền 139.834.000 đồng, cho ông Lê Văn P số tiền 79.582.608 đồng, cho ông Nguyễn Văn M số tiền 25.633.458 đồng, cho ông Nguyễn Văn H3 số tiền 26.003.153 đồng, cho ông Nguyễn Văn T5 số tiền 37.539.849 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Trần Thị C về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 357 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.

[4] Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị C:

[4.1]. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa đối với tội phạm.

[4.2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy:

  • - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không biết việc đấu thầu đất là hành vi vi phạm pháp luật mà chỉ làm theo sự nhất trí của nhân dân, sự ủng hộ của UBND xã M. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình nộp lại số tiền gây thiệt hại để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Quá trình công tác, bị cáo được UBND huyện V (nay là thị xã V), UBND xã M tặng nhiều giấy khen; một số bị hại và người liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo C là người thờ cúng liệt sỹ; năm 1999, bị cáo C được Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tặng huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội không vì động cơ vụ lợi cá nhân mà vì tập thể, đồng thời có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử các bị cáo dưới khung hình phạt.

Bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Thị C 03 (Ba) năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4.3]. Quá trình xét xử tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trần Thị C cung cấp thêm tài liệu về việc bị cáo được tặng bằng khen của Hội L2 vì đạt danh hiệu “Phụ nữ xuất sắc 5 năm tiêu biểu toàn quốc” (2006-2011); được Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bắc Giang tặng bằng khen vì đạt danh hiệu “Cán bộ Hộ cơ sở giỏi” tiêu biểu nhiệm kỳ 2006- 2001; được tặng nhiều giấy khen trong các năm 2003, 2009, nhiệm kỳ 2001- 2006, được tặng giấy khen năm 2022 vì có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid 19 trên địa bàn xã M, bị cáo có thời gian tham gia dân công hoả tuyến năm 1979; bị cáo có bố chồng là ông Đỗ Xuân H8 được tặng thưởng huân chương kháng chiến, bà mẹ Việt Nam anh hùng Đồng Thị T9 là bà ngoại bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm theo quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo C cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo C, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm, phạm tội do thiếu hiểu biết, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Hội đồng xét xử xét, thấy bị cáo C đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN-TAND TC ngày 07/9/2022, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo C được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hôi như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[5]. Xét kháng cáo của các bị hại là bà Hoàng Thị N, ông Lê Văn P về phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm:

- Tại phiên toà phúc thẩm bà Hoàng Thị N đã rút toàn bộ kháng cáo, việc xin rút kháng cáo của bà N là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ

xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà N theo quy định tại Điều 342 Bộ luật hình sự.

- Bản án sơ thẩm đã tuyên buộc các bị cáo phải bồi thường cho ông P số tiền ông bỏ ra đã thuê thầu, tại cấp phúc thẩm ông Lê Văn P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, ông P khi thực hiện việc thuê đất trái thẩm quyền đã được hưởng lợi từ việc thuê đất đó từ năm 2018 cho đến khi hành vi của bị cáo bị phát hiện. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị hại Lê Văn P.

[6]. Bản án sơ thẩm nhận định áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử các bị cáo dưới khung hình phạt là chưa chính xác. Việc án sơ thẩm tuyên: “cấm các bị cáo đảm nhiệm công việc quản lý nhà nước là 01 năm kể từ ngày chấp hành hình phạt tù” là chưa chính xác và không cụ thể, nên Hội đồng xét xử cần sửa nội dung này.

Do đó, HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của bị hại Lê Văn P; căn cứ điểm b khoản 1, Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị C, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

[7]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Trần Thị C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại Lê Văn P không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại Hoàng Thị N.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của bị hại Lê Văn P.
  3. Căn cứ điểm b khoản 1, Điều 355; điểm e khoản 1 Đều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị C, sửa bản án sơ thẩm số 179/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên. Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 357; điểm b, điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị C 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Thị C cho Ủy ban nhân dân xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 357 Bộ luật hình sự. Cấm bị cáo Trần Thị C đảm nhiệm chức vụ Bí thư chi bộ thôn; cấm bị cáo Nguyễn Văn T1 đảm nhiệm chức vụ trưởng thôn trong thời hạn 01(một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Thị C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Buộc bị hại Lê Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS thị xã Việt Yên;
  • - Huyện uỷ Việt Yên- tỉnh Bắc Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lạm quyền trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 227/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại Hoàng Thị N. 2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của bị hại Lê Văn P. 3. Căn cứ điểm b khoản 1, Điều 355; điểm e khoản 1 Đều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị C, sửa bản án sơ thẩm số 179/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên. Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 357; điểm b, điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị C 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Thị C cho Ủy ban nhân dân xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger