Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2024/HS-ST

Ngày: 19/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai, ông Lê Hổ Bình.

Thư ký phiên toà: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 208/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 208/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên : Đỗ Thị Vân A Giới tính : Nữ Sinh năm: 1974

HKTT : 47 T, Đ, phường T, H, Hà Nội.

Chỗ ở : 19 ngách F ngõ G, phường H, quận H, Hà Nội.

Quốc tịch : Việt Nam Dân tộc : Kinh Tôn giáo : Không

Nghề nghiệp : Không Trình độ học vấn : 12/12

Họ tên cha : Đỗ Văn G - Đã chết

Họ tên mẹ : Hoàng Thị O

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Chồng : Nguyễn Anh T – sinh năm 1974

Có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2006

TATS : Không

Tạm giữ : 08/02/2024Tạm giam : 11/02/2024

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an T7

(Có mặt tại phiên tòa).

*Bị hại: Ngân hàng TMCP Đ (P)

Trụ sở: B N, phường L, quận H, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T1, ông Nguyễn Xuân S.

(Có mặt tại phiên tòa).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nguyễn Tiến B, SN 1989
  • Nơi ở hiện tại: căn hộ A tòa S khu đô thị V, G, Hà Nội. (Vắng mặt).
  • - Anh Đào Anh T2, SN 1985
  • Nơi ở hiện tại: xóm C, ngọc B1, V, Hưng Yên. (Vắng mặt).
  • - Chị Nguyễn Đỗ Hoài T3, sinh năm 1999
  • Trú tại: số19 ngách F ngõ G, phố M, quận H, thành phố Hà Nội.

*Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Ông Nguyễn Mạnh T4- Luật sư Văn phòng L- Đoàn luật sư thành phố H.
  2. Ông Phạm Quang H- Luật sư Văn phòng L- Đoàn luật sư thành phố H.

Cùng địa chỉ văn phòng: 26 A, Y, T, Hà Nội.

VPGD: Phòng 601, tòa nhà số B, ngõ A P, N, Cầu G, Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/8/2022, Công an quận H tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Đức T1 (sinh năm: 1986; HKTT: thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang; nhân viên được ngân hàng P uỷ quyền) với nội dung:

Đỗ Thị Vân A hiện có 02 khoản vay tại 02 phòng giao dịch của P (PGD hội sở và P1). Tính đến ngày 09/08/2022, thời điểm cơ quan điều tra tiếp nhận tin báo:

  1. Số tiền 150.000.000 đồng liên quan đến hồ sơ vay vốn số: 954/2016/HĐCVPVB-HO ngày 20/10/2016, địa chỉ: B N, L, H, Hà Nội. Tính đến thời điểm ngân hàng trình báo phát sinh cả lãi và gốc là: 205.916.180 đồng. Dư nợ gốc khoản vay là: 105.452.131 đồng, dư nợ lãi 99.624.351 đồng.
  2. Số tiền 150.000.000 đồng liên quan đến hồ sơ vay vốn số: 0601/2017/HĐTD/PVB-THO ngày 06/01/2017, Chi nhánh T8, địa chỉ: B - F Đ - P, N, B, Hà Nội. Tính đến thời điểm ngân hàng trình báo phát sinh cả lãi và gốc là: 219.009.551 đồng. Dư nợ gốc của khoản vay là: 112.068.912 đồng, dư nợ lãi: 106.020.843 đồng.

Trong hồ sơ vay vốn tại phòng G1, Chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu có dấu hiệu tẩy xóa, đối với các giấy tờ xác nhận nguồn thu để làm thủ tục vay vốn (có xác nhận của bệnh viện Đ1) đều trùng khớp các thông tin, cụ thể:

Thông tin trên CMND: Chỉ có số CMND có dấu hiệu chỉnh sửa, còn lại các thông tin khác liên quan đến khách hàng đều trùng khớp (Tại PGD T, Vân A cung cấp CMND số [...] và tại PGD hội sở là số [...]). Việc 02 CMND của Vân A trùng khớp các thông tin có cùng ngày cấp và đơn vị cấp, chỉ khác một số (số 6 sửa thành số 0) trong dãy số đăng ký có dấu hiệu sử dụng giấy tờ giả để hoàn thiện các hồ sơ vay.

- Tại sổ hộ khẩu của 02 hồ sơ: Các thông tin đều trùng khớp, chỉ có trang chứa thông tin số CMND Đỗ Thị Vân A là khác nhau.

- Chữ ký, chữ viết của Đỗ Thị Vân A lưu trên hệ thống phần mềm của P và trên hồ sơ tại P1 và PGD hội sở khác nhau.

- Tra soát tài khoản số [...] của Đỗ Thị Vân A mở tại chi nhánh T8 nhận thấy cán bộ cho vay của P thường xuyên chuyển khoản, nộp tiền mặt để thanh toán gốc lãi cho khoản vay của Vân A chi nhánh T8; cụ thể từ ngày 25/2/2017 đến ngày 16/5/2018, cán bộ Đỗ Hoài T5 (sinh năm: 1990; HKTT: tổ B cụm D T, quận T, Hà Nội) chuyển 58.082.000 đồng, Vân A chỉ thanh toán một lần duy nhất vào ngày 26/8/2017 với số tiền 4.130.000 đồng. Việc này vi phạm quy định của P về việc sử dụng tài khoản cá nhân của mình thực hiện các giao dịch liên quan đến khách hàng.

Tiến hành xác minh, các tài liệu trong hồ sơ tại phòng G2 là thật. Đối với tài liệu trong hồ sơ vay vốn của Vân A tại phòng G1 nghi ngờ “Quyết định về việc tuyển dụng, bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức” là giả, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 8103 ngày 03/12/2022 của Phòng K1 - Công an thành phố T7 kết luận:

  1. Con dấu đóng ra hình dấu tròn có nội dung "BỆNH VIỆN Đ1" trên các mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 đến M3) không đóng ra hình dấu tròn có nội dung "BỆNH VIỆN Đ1" trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A).
  2. Hình dấu chữ nhật có nội dung: SAO Y BẢN CHÍNH trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) với hình dấu chữ nhật có nội dung: SAO Y BẢN CHÍNH trên mẫu so sánh (Ký hiệu M4) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  3. Chữ ký đứng tên Đoàn Hải Y trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) với chữ ký đứng tên Đoàn Hải Y trên mẫu so sánh (Ký hiệu M5) không phải là chữ do cùng một người ký ra

Xác minh tại bệnh viện Đ1:

Tại công văn số 884/BVĐKXP-TCCB ngày 26/3/2021 của bệnh viện Đ1: Quyết định về việc tuyển dụng, bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức số 843/QĐ_SNV của Sở nội vụ thành phố H được sao y và xác nhận của Phó phòng tổ chức cán bộ Đoàn Hải Yến: Bệnh viện xác nhận không có Quyết định về việc tuyển dụng, bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức số 843/QĐ-SNV của Sở Nội vụ thành phố H và chữ ký sao y bản chính của Phó phòng tổ chức cán bộ là chữ ký không đúng.

- Bệnh viện Đ1 xác nhận Đỗ Thị Vân A, số CMND 12086141 cấp ngày 20/12/2002 tại Công an thành phố T7, hiện công tác tại Khoa Răng hàm mặt – Bệnh viện Đ1.

Tại cơ quan điều tra, ban đầu Đỗ Thị Vân A khai chỉ sử dụng số CMND [...] cấp ngày 20/12/2002, không có CMND [...] và Đỗ Thị Vân A chỉ có 01 khoản vay tại ngân hàng P – phòng G2 do Đỗ Hoài T5 (cán bộ ngân hàng) làm thủ tục. Khoản vay còn lại, Vân A không thực hiện và khai: Cuối năm 2016 do có nhu cầu vay vốn và được một số người giới thiệu, có 02 nam thanh niên tự xưng là Thế A1 và T6 (làm việc tại ngân hàng P) liên lạc với Vân A, nói có thể làm thủ tục cho vay. Vân A cung cấp cho T6, Thế A1 chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu, quyết định nâng lương (tất cả là bản photo). Khoảng 01 tháng sau, Thế A1 gọi điện nói không làm thủ tục vay được nên Vân A đã nhờ Đỗ Hoài T5 làm thủ tục vay tại phòng G2 (thực hiện theo đúng quy định). Vân A không biết, không thực hiện khoản vay số tiền 150.000.000 đồng liên quan đến hợp

đồng vay số 954/2016/HĐCVPVB-HO ngày 20/10/2016 tại hội sở P địa chỉ: B N, phường L, quận H, Hà Nội.

Cơ quan điều tra trưng cầu giám định đối với Mẫu giám định gồm:

  • - 01 (Một) "Khế ước nhận nợ" số: 0601/2017/KUNN, bên vay: Đỗ Thị V Anh, đề ngày 06/01/2017 (Gồm 02 tờ - Ký hiệu A1). – chi nhánh T8
  • - 01 (Một) "Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương" số: 0601/2017/HDTD/ PVB-THO, đại diện bên cho vay: Lê Khắc T6, bên vay: Đỗ Thị Vân A, đề ngày 06/01/2017 (Gồm 06 tờ - Ký hiệu A2) – chi nhánh T8.
  • - 01 (Một) "Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ kiêm tờ trình cấp tín dụng", người đề nghị vay vốn: Đỗ Thị Vân A, không đề ngày tháng năm (Gồm 03 tờ - Ký hiệu A3). – chi nhánh T8
  • - 01 (Một) "Bản kê khai và cam kết mục đích sử dụng vốn", bên vay vốn: Đỗ Thị Vân A, đề ngày 05/01/2017 (Ký hiệu A4) – chi nhánh T8.
  • - 01 (Một) "Cam kết không có tài khoản thanh toán tại các tổ chức tín dụng", người làm đơn: Đỗ Thị Vân A, đề ngày 30/12/2016 (Ký hiệu A5) – chi nhánh T8.
  • - 01 (Một) "Giấy yêu cầu bảo hiểm tín dụng cá nhân", người yêu cầu bào hiểm: Đỗ Thị Vân A, đề ngày 05/01/2017 (Ký hiệu A6). chi nhánh T8.
  • - 01 (Một) "Giấy xác nhận", người làm đơn: Đỗ Thị Vân A, đề ngày 03/01/2017 (Ký hiệu A7). - chi nhánh T8.
  • - 01 (Một) "Ủy nhiệm chi" - Ngân hàng P, chủ tài khoản: Đỗ Thị Vân A, đề ngày 06/01/2017 (Ký hiệu A8). chi nhánh T8.
  • - Biên bản ghi lời khai của Đỗ Thị Vân A ngày 22/09/2022 có chữ ký chữ viết của Đỗ Thị Vân A (ký hiệu M1)
  • - CCCD photo có chữ ký, chữ viết xác nhận của Đỗ Thị Vân A (ký hiệu M2) - chữ ký tại cơ quan điều tra – Công an quận H khi được triệu tập làm việc.
  • - CMTND photo có chữ ký, chữ viết xác nhận của Đỗ Thị Vân A (ký hiệu M3) - chữ ký tại cơ quan điều tra – Công an quận H khi được triệu tập làm việc.
  • - Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ kiêm tờ trình cấp tín dụng (ký hiệu M4) - chi nhánh H1.
  • - Giấy nộp tiền mặt khoản vay Hội sở ngày 22/02/2017 (ký hiệu M5).

Tại bản Kết luận giám định số 5366/KL-KTHS ngày 14/8/2023 kết luận:

1. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Đỗ Thị Vân A (dưới chữ ký) trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A8 với chữ ký, chữ viết đứng tên Đỗ Thị Vân A trên các mẫu so sánh ký hiệu ký hiệu từ M1 đến M3 và chữ ký đứng tên Đỗ Thị Vân A trên các mẫu so sánh ký hiệu M4, M5 là chữ do cùng một người ký và viết ra.

* Không đủ cơ sở kết luận chữ viết dòng họ tên Đỗ Thị Vân A (dưới chữ ký) trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A8 với chữ viết đứng tên Đỗ Thị Vân A trên các mẫu so sánh ký hiệu M4, M5 có phải là chữ do cùng một người ký ra hay không.

Như vậy, xác định Đỗ Thị Vân A là người ký giấy đề nghị vay vốn, có nộp tiền thanh toán lãi đối với khoản vay tại phòng giao dịch hội sở (hồ sơ sử dụng chứng minh thư nhân dân giả số 6 thay số 0 tẩy xoá, giấy xác nhận giả để vay vốn), Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Vân A đến để làm việc nhưng Vân A đã bỏ trốn, không có mặt tại địa phương. Ngày 27/9/2023, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can đối với Đỗ Thị Vân A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999

(nay là khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015) và ra Quyết định truy nã. Ngày 08/02/2024, Vân A bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan điều tra – Công an quận H. Tại cơ quan điều tra, Vân A thay đổi lời khai: Năm 2016, Vân A đang làm việc tại khoa Răng – hàm – mặt, bệnh viện V1 thì Đào Anh T2 (sinh năm: 1985; HKTT: nơi ở: tập thể xăng dầu khu vực A tổ A Đ, quận L, Hà Nội) gọi điện tư vấn về việc vay tiền ngân hàng; tuy Vân A nói hiện đang nợ tại một số ngân hàng, ý thức không vay được nhưng T2 nói đưa giấy tờ để T2 thực hiện, Vân A đồng ý. Vân A đã đưa T2 01 bản photo công chứng chứng minh thư, 01 bản sao photo sổ hộ khẩu, 01 quyết định lên lương của bệnh viện, 01 đăng ký kết hôn, 01 xác nhận thu nhập. T2 sau khi hoàn thiện hồ sơ đã hẹn Vân A tại ngân hàng để nộp giấy tờ. Vân A cầm bộ hồ sơ của T2 đưa, không kiểm tra lại và nộp tại ngân hàng để xin vay vốn. Sau đó 10 ngày, Vân A điện thoại cho T2 thì biết T2 đã sửa số chứng minh thư và đã vay được [...] đồng, T2 chuyển cho Vân A 50.000.000 đồng. Việc T2 sửa số trên chứng minh thư của Vân A và chỉnh sửa trong hồ sơ, Vân A không biết. Vân A sau đó có nộp lãi cho khoản vay vài lần rồi không nộp nữa. Sau đó, khi được Cơ quan điều tra – Công an quận H mời lên làm việc, do lo sợ nên Vân A ban đầu không nhận tội, khai không biết, không liên quan đến khoản vay trên; đến nay biết không thể chối cãi nên Vân A khai nhận như nêu trên. Vân A khai không chỉnh sửa chứng minh thư, không làm giả tài liệu cơ quan tổ chức, tài liệu nộp tài ngân hàng do T2 đưa, Vân A nghĩ là giấy tờ đã đưa T2 từ trước nên không xem lại, không biết có giấy tờ giả và bị chỉnh sửa. Như vậy, tuy Vân A khai không biết việc T2 sửa số trên chứng minh thư, làm giả giấy xác nhận đề vay ngân hàng nhưng Vân A nhận thức bản thân không đủ điều kiện vay vốn, nhờ T2 hoàn thiện hồ sơ, là người trực tiếp ký hợp đồng vay 150.000.000 đồng của ngân hàng P – PGD hội sở, biết khoản vay được giải ngân, Vân A có nhận tiền từ T2, sau đó thanh toán gốc và lãi một số lần rồi không tiếp tục trả tiền. Khi được triệu tập đến làm việc, Vân A phủ nhận việc vay tiền, cung cấp thông tin sai sự thật nhằm từ chối việc đã vay tiền, ý thức nhằm chiếm đoạt tài sản; đủ căn cứ kết luận Đỗ Thị Vân A đã có hành vi bằng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.

Phạm Trọng K (sinh năm: 1986; HKTT: P509 nhà E3, khu tập thể T, quận B, Hà Nội; là cán bộ ngân hàng P thực hiện khoản vay cho Vân A tại Phòng G1) khai: Năm 2016, K mời Vân A tham gia vay vốn tại ngân hàng. Vân Anh sau đó đã cung cấp đầy đủ giấy tờ theo quy định, K đã đối chiếu với giấy tờ gốc và thực hiện khoản vay theo quy định. Sau khi được lãnh đạo duyệt, số tiền vay đã được giải ngân vào tài khoản cá nhân của Vân A. K khai không biết T2, hồ sơ vay do Vân A trực tiếp thực hiện.

Xác minh số tài khoản của Vân A: sau khi nhận tiền từ ngân hàng, số tiền đã được chuyển cho tài khoản số 15110000343194 tại ngân hàng B3 – chủ tài khoản là Nguyễn Tiến B (sinh năm: 1989; HKTT: TT TCN P, TDP đường E, D, G, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, ban đầu B khai: Khoảng tháng 10/2016, Đào Anh T2 (sinh năm: 1985; HKTT: nơi ở: tập thể xăng dầu khu vực A tổ A Đ, quận L, Hà Nội) nhờ nhận tiền từ tài khoản của Đỗ Thị Vân A rồi rút tiền mặt ra đưa T2. B không biết tiền từ đâu, nội dung chuyển là gì,

không được hưởng lợi gì trong việc này. Sau đó, B thay đổi lời khai: số tiền B nhận là tiền T2 trả nợ cho B, B không biết tại sao lại chuyển từ tài khoản Vân A.

Tại cơ quan điều tra, Đào Anh T2 khai không liên quan đến việc sửa số chứng minh thư để vay tiền ngân hàng của Vân A. T2 khai trước đây cho Vân A vay khoảng 80 triệu đồng, sau khi Vân A vay được tiền ngân hàng, trả nợ cho T2 thì T2 đã nhờ Vân A chuyển khoản 148 triệu đồng cho B (do T2 đang nợ tiền B), số tiền còn lại T2 đã đưa tiền mặt cho Vân A. Tiến hành nhận dạng, K không nhận dạng được T2, không biết T2 là ai. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Vân A và T2 đối chất, kết quả: T2 giữ nguyên lời khai như nêu trên, Vân A khai không vay tiền của T2, hồ sơ vay tiền của Vân A tại ngân hàng do T2 cung cấp, Vân A đi nộp tại ngân hàng; sau khi tiền giải ngân, Vân A không chuyển cho B, có nhận 50.000.000 đồng từ T2.

Xét thấy: Vân A trực tiếp nộp hồ sơ, ký hợp đồng vay vốn ngân hàng, số điện thoại đăng ký tài khoản ngân hàng (thực hiện việc chuyển tiền qua internet banking) là do Vân A sử dụng, biết khoản vay đã được giải ngân; ngoài lời khai của Vân A, không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh về việc T2, B giúp sức Vân A làm giả hồ sơ để vay vốn ngân hàng rồi chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T2, B.

Đối với khoản vay của Đỗ Thị Vân A tại phòng G2: thực hiện theo đúng quy định, là vụ việc dân sự nên không xem xét xử lý trong vụ án này. Đỗ Hoài T5 (là cán bộ ngân hàng tiếp nhận, giải quyết hồ sơ khoản vay) khai thường đi khám ở bệnh viện Đ1, nên quen biết với Đỗ Thị Vân A (làm việc tại bệnh viện). Khi biết Vân A có nhu cầu vay vốn, chị T5 đã tư vấn cho Vân A vay tín chấp, hạn mức tối đa 150 triệu đồng, trả nợ trong 60 tháng. Sau đó, chị T5 yêu cầu Vân A cung cấp các loại giấy tờ: chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu, quyết định nâng lương, hợp đồng lao động có xác nhận của cơ quan, sao kê bảng lương, xác nhận thu nhập. Chị T5 đã kiểm tra trên hệ thống, Vân A chưa có khoản vay nào khác trong hệ thống. Chị T5 làm hồ sơ, kiểm tra, thẩm định hồ sơ của Vân A, cam kết chữ ký trong hồ sơ là thật. T5 có giúp Vân A nộp tiền lãi khoản vay bằng tài khoản của T5 là vi phạm quy định của P về việc sử dụng tài khoản cá nhân thực hiện các giao dịch liên quan đến khách hàng. Cơ quan điều tra đã tách rút tài liệu, phân công giải quyết nguồn tin tố giác về tội phạm để xem xét, xử lý theo quy định.

Về hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức gồm chứng minh thư nhân dân bị chỉnh sửa, giấy xác nhận công tác giả, Vân A thực hiện khoản vay ngày 20/10/2016 tại P – phòng G1 là hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả lừa dối cơ quan, tổ chức và cấu thành tội Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng nguyên tắc có lợi: hành vi của Vân A đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 111A/CT-VKS ngày 01/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Đỗ Thị Vân A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo

điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, bị cáo tự nguyện nộp 53 triệu đồng khắc phục hậu quả cho bị hại.
  • Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền gốc còn lại là (105,452,131 - 53,000,0000) = 52,452,131 đồng và bồi thường một khoản tiền tương đương số tiền lãi tính đến ngày xét xử là 168,164,813 đồng. Về hình sự, đề nghị xét xử đúng người đúng tội.
  • Người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, buộc Đào Anh T2 trả lại số tiền 80 triệu đồng cho bị hại vì T2 nhận số tiền này từ số tiền 150 triệu đồng ngân hàng giải ngân cho bị cáo; giao dịch dân sự giữa ngân hàng và bị cáo vô hiệu nên không tính lãi mà tính lỗi của các bên theo quy định.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Đỗ Thị Vân A đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015). Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 139 (nay là điểm c khoản 2 Điều 174); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự.

  • Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thị Vân A mức án từ 20- 24 tháng tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Không.
  • Về dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho Ngân hàng TMCP Đ (P) số tiền gốc còn lại. Án phí giải quyết theo quy định.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về thủ tục: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: HĐXX thấy rằng, bị cáo biết việc mình không vay được tiền ngân hàng nên đã nhờ và đưa giấy tờ cá nhân của mình để Đào Anh T2 vay tín dụng hộ. Bị cáo là người trực tiếp nộp hồ sơ vay vốn tại P2 phòng giao dịch hội sở. Trong bộ hồ sơ vay vốn có chứng minh thư bị sửa, giấy xác nhận công tác giả. Bị cáo biết việc giấy tờ giả này. Đồng thời, số tiền 150 triệu đồng được giải ngân vào

tài khoản của bị cáo mở hợp pháp tại ngân hàng. Sau khi tiền được giải ngân, T2 có chuyển cho bị cáo 50 triệu đồng và bị cáo đồng ý nhận số tiền này. Bị cáo có đứng ra thanh toán trả ngân hàng tiền gốc, lãi một số lần rồi sau đó không trả nữa và đã có hành vi bỏ trốn nhằm mục đích không phải thanh toán tiền trả ngân hàng nữa.

Bị cáo cũng thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015).

[3] Về tình tiết tăng nặng: Không.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả; bản thân bị cáo có thời gian công tác tại bệnh viện, đạt thành tích cao, được tặng kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, b khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, HĐXX cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà phần nào giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Không

[8] Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền gốc còn lại là 52,452,131 đồng cho bị hại.

- Đối với yêu cầu của bị hại buộc bị cáo bồi thường thêm phần tiền lãi tính đến ngày 19/11/2024 là 168,164,813 đồng. thì HĐXX thấy rằng: Tiền lãi là thỏa thuận dân sự của các bên, Ngân hàng có yêu cầu bị cáo bồi thường bằng số tiền lãi, tuy nhiên Ngân hàng chưa xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh có thiệt hại do hành vi lỗi của bị cáo gây ra. Do đó, HĐXX quyết định tách yêu cầu bồi thường này, Ngân hàng có quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác liên quan đến yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật.

[10] Về các vấn đề khác:

- Đối với khoản vay của Đỗ Thị Vân A tại phòng G2: thực hiện theo đúng quy định, là vụ việc dân sự nên không xem xét xử lý trong vụ án này. Đỗ Hoài T5 (là cán bộ ngân hàng tiếp nhận, giải quyết hồ sơ khoản vay) có giúp Vân A nộp tiền lãi khoản vay bằng tài khoản của T5 là vi phạm quy định của P về việc sử dụng tài khoản cá nhân thực hiện các giao dịch liên quan đến khách hàng. Cơ quan điều tra đã tách rút tài liệu, phân công giải quyết nguồn tin tố giác về tội phạm để xem xét, xử lý theo quy định nên HĐXX không giải quyết.

- Về hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức gồm chứng minh thư nhân dân bị chỉnh sửa, giấy xác nhận công tác giả, Vân A thực hiện khoản vay ngày 20/10/2016 tại P – phòng G1 là hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả lừa dối cơ quan, tổ chức và cấu thành tội Làm giả con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng nguyên tắc có lợi: hành vi của Vân A đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý. Do đó HĐXX không giải quyết.

- Đối với T2, B: Không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh về việc T2, B giúp sức Vân A làm giả hồ sơ để vay vốn ngân hàng rồi chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra không xử lý.

- Đề nghị của người bào chữa về việc yêu cầu Đào Anh T2 trả lại 80 triệu đồng cho Ngân hàng không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

- Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện nộp 53 triệu đồng khắc phúc hậu quả và con gái bị cáo là chị Nguyễn Đỗ Hoài T3 đi nộp tiền thay cho bị cáo. Vì vậy, HĐXX đưa chị Nguyễn Đỗ Hoài T3 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Chị T3 khai đây là số tiền của bị cáo, chị không liên quan gì và không có yêu cầu gì nên HĐXX không giải quyết.

[11] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nhân thân của bị cáo, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt, về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng và về vấn đề khác là có căn cứ.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[13] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Vân A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (nay là điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015); điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Vân A 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/02/2024.

  3. Về dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật dân sự:

    - Buộc bị cáo Đỗ Thị Vân A còn phải tiếp tục bồi thường cho ngân hàng P2 số tiền 52,452,131 (Năm mươi hai triệu, bốn trăm năm hai nghìn, một trăm ba mươi mốt) đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho người được thi hành án thì hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại

  4. Khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án của số tiền phải thi hành.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí HSST và 3.000.000 (Ba triệu) đồng án phí DSST.

  6. Bị cáo, bị hại, chị Nguyễn Đỗ Hoài T3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Đào Anh T2, Đỗ Tiến B2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKS nhân dân quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 227/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐTVA Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger