Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 227/2024/HS-ST

Ngày 30-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan và bà Ngô Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xét xử số 3 Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 205/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với:

- Họ và tên: Đỗ Minh Q, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13 tháng 11 năm 2002 tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Đỗ Mạnh H (đã chết); Con bà: Dương Thị Quỳnh H1 (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Không có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993, vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 ngày 05/5/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát tội phạm về ma tuý Công an thành phố T đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực đường B, thuộc tổ A, phường H, thành phố T thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai nhận tên là Đỗ Minh Q và tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu xám từ túi đeo chéo bằng vải màu đen Q đang đeo trên người. Q khai nhận đó là ma túy Ketamine và ma túy Kẹo của Q mang đi bán kiếm lời. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen đã qua sử dụng có số IMEI 35413241 3368351, IMEI 2 35413241 3460042.

Hồi 10 giờ ngày 06/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Minh Q tại tổ F, phường Q, thành phố T. Kết quả không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng: Cân toàn bộ số chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 1,685 gam, lấy toàn bộ số tinh thể màu trắng trên gửi giám định ký hiệu A1.

- Cân toàn bộ số viên nén màu xám trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng là 0,742gam, lấy toàn bộ số viên nén trên gửi giám định ký hiệu A2.

Tại bản Kết luận giám định số 594/KL-KTHS ngày 14/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất tỉnh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Ketamine có khối lượng là 1,685 gam.

- 02 viên nén màu xám trong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,742 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Minh Q khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, Q đi xe taxi từ nhà đến khu vực đường B, thuộc phường H, thành phố T, khi đi Q có mang theo 02 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu trắng chứa 02 viên nén màu xám là ma tuý Ketamine và ma tuý Methamphetamine, MDMA và Ketamine mục đích để bán kiếm lời. Khi đến khu vực gần nhà nghỉ B, Q xuống xe đi bộ tìm khách để bán ma tuý nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên. Nguồn gốc số ma tuý trên Q khai mua của một nam thanh niên tên là T1 thuê tại phòng 1502 Chung cư T, thuộc tổ A, phường T, thành phố T vào hồi 17 giờ ngày 05/5/2024 với giá 2.500.000 đồng.

2

Cáo trạng số 215/CT-VKSTPTN ngày 31 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đỗ Minh Quân về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Đỗ Minh Q từ 33 đến 39 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa ma tuý và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa ma tuý và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu; Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng, có số IMEI: 354132413368351, IMEI 2: 354132413460042 của bị cáo. Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.

Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

3

Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 22 giờ 15 phút, ngày 05/5/2024, tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Đỗ Minh Q có hành vi tàng trữ 1,685 gam ma túy, loại Ketamine và 0,742 gam ma tuý loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Công an phường H, thành phố T bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Minh Q đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là một loại độc dược gây nghiện khi sử dụng nó sẽ làm con người bị lệ thuộc và mất đi nhân cách, nó còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi nêu trên của bị cáo Q bị pháp luật ngăn cấm, bị xã hội lên án, do đó cần phải bị xử phạt mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết xử phạt bị cáo Đỗ Minh Q buộc cách ly xã hội mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

4

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy, trước khi phạm tội bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng của vụ án cần được xử lý như sau:

  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 1,560 gam ma tuý, loại Ketamine và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 0,596 gam ma tuý, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu. Đây là số ma túy còn lại sau giám định cấm sử dụng, lưu hành và các vỏ bao bì không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng, có số IMEI: 354132413368351, IMEI 2: 354132413460042 của bị cáo. Đây là vật chứng bị cáo dùng làm phương tiện để liên lạc, trao đổi, mua bán chất ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[8]. Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ, Q khai là của một nam thanh niên tên T1 tại căn hộ A, chung cư T thuộc tổ A, phường T, thành phố T. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình phạt chính: Xử phạt Đỗ Minh Q 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/5/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo Đỗ Minh Q 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

5

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 1,560 gam ma tuý, loại Ketamine và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 0,596 gam ma tuý, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu;
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng, có số IMEI: 354132413368351, IMEI 2: 354132413460042 của bị cáo Đỗ Minh Q.

    (Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục THADS thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T với Chi cục THA dân sự thành phố T số 243 ngày 20/8/2024).

  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - CQĐT Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam CATP Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VT, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Hương

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 227/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Minh Quân phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger