Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2024/HS-ST

Ngày 18/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chương

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2024/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐ-HPT ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1983 tại tỉnh Hà Nam; Hộ khẩu thường trú: 1 B, Phường H, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: D B, phường N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1956; Mẹ: Dương Thị S, sinh năm 1959; Vợ: Lê Thị T2, sinh năm 1983; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 06/02/2024 đến ngày 15/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện trú tại: D B, phường N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

2. Phạm Hữu H, sinh năm 1982 tại TP Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú: M, T, T, Hải Phòng; Chỗ ở: 7 T, phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Phạm Hữu V (đã chết); Mẹ: Hoàng Thị K, không rõ năm sinh; Vợ: Ngô Thị X, sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 06/02/2024 đến ngày 15/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện trú tại: 7 T, phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

3. Nguyễn Trọng T3, sinh năm 1993 tại tỉnh Hà Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn A, Do Đ, N, L, Hà Nam; Chỗ ở: F P, Phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Trọng B, sinh năm 1960; Mẹ: Lương Thị H1 (đã chết); Vợ: Trần Thị H2, sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 06/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện trú tại: F P, Phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

4. Nguyễn Duy D, sinh năm 1977 tại Hà Nội; Hộ khẩu thường trú: B V, phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: D B, phường N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Duy D1 (đã chết); Mẹ: Cù Thị Đ1, sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1983; Có 02 người con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 06/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt tại phiên tòa).

5. Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1975 tại tỉnh Thái Bình; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 935/7/37 B, phường A, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Hữu M, sinh năm 1948; Mẹ: Nguyễn Thị B1 (đã chết); Vợ: Trần Thị H4, sinh năm 1980; Có 02 người con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 06/02/2024 đến ngày 09/5/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện trú tại: 935/7/37 B, phường A, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

6. Phạm Thị H5, sinh năm 1972 tại tỉnh Hà Tĩnh; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 5 L, phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Phạm Văn L (đã chết); Mẹ: Bùi Thị Q, sinh năm 1935; Chồng: Nguyễn Ngọc D2, sinh năm 1969; Có 02 người con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 06/02/2024 đến ngày 15/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện trú tại: 5 L, phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

7. Lê Văn Mến E, sinh năm 1984 tại tỉnh Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: Ấp M, M, U Minh T5, Kiên Giang; Chỗ ở: I B, phường A, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Lê Văn H6, sinh năm 1954; Mẹ: Huỳnh Thị T6, sinh năm 1955; Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984; Có 01 người con, sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 06/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/02/2024, Công an T kết hợp cùng Công an phường N, TP . tiến hành kiểm tra xưởng gỗ số D B, phường N, TP V do Nguyễn Hoàng A làm chủ, phát hiện bắt quả tang có 06 đối tượng đang chơi đánh bạc dưới hình thức chơi bài tố Liêng 3 lá thắng thua bằng tiền, gồm: Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 và Lê Văn M1 Em cùng tang vật thu giữ gồm: tiền trên chiếu bạc và trong người các con bạc dùng để đánh bạc là 36.450.000 đồng, tiền xâu là 100.000 đồng (trong hộp dựng khăn giấy), 01 cái chiếu, 01 cái mền, 02 bộ bài tây đã qua sử dụng, 03 bộ bài tây chưa qua sử dụng.

Tại Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau: Nguyễn Hoàng A là chủ xưởng gỗ số D B, P. N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do hám lợi từ việc thu lợi bất chính nên vào đầu tháng 2/2024, A đã cho các con bạc đánh bạc thắng thua bằng tiền tại cơ sở chế biến gỗ của mình, dưới hình thức chơi tố Liêng ba lá. Nguyễn Hoàng A mua bài Tây 52 lá, chiếu và mền (chiếu bạc) để sẵn trong phòng nhằm phục vụ cho các con bạc vào chơi. Ngoài ra, A còn phục vụ đồ ăn thức uống khi các con bạc có yêu cầu. Ngược lại, các con bạc trong quá trình chơi phải bỏ tiền xâu cho A vào hộp đựng khăn giấy mà A đã chuẩn bị sẵn. Khoảng trưa ngày 06/02/2024, các con bạc Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Duy D, Lê Văn Mến E, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 và L2 (chưa rõ lai lịch) tập trung đến xưởng của A để chơi đánh bạc dưới hình thức tố Liêng ba lá thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi và cá cược như sau:

Cả nhóm sử dụng bộ bài tây 52 lá để đánh bài cào liêng để thắng thua bằng tiền. Trước khi bắt đầu mỗi ván bài thì mỗi con bạc sẽ phải đặt 50.000đ (năm mươi ngàn đồng) tiền tẩy xuống giữa chiếu. Mỗi con bạc sẽ được chia 03 lá bài, và bản thân phải giữ 03 lá bài của mình không cho người khác biết. Số tiền tố (cược) thấp nhất là 100.000đ (một trăm ngàn đồng) và lớn nhất là 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) cho một lượt tố (cược) không giới hạn số lần tố cược. Quy ước thắng thua như sau: mỗi con bạc sẽ xem 03 lá bài của mình thuộc vào các trường hợp nào: 3 lá bài giống nhau gọi là "sáp" là lớn nhất (ví dụ: 3 con 1, 3 con 2,...) và 3 con 1 là lớn nhất; 3 lá bài theo thứ tự gọi là "liêng" là lớn thứ nhì (ví dụ: 3 con 1, 2, 3, 3 con 5, 6, 7) và liêng lớn ăn liêng nhỏ; 3 lá bài tây gọi là "ba tiên" là lớn thứ ba (ví dụ: 2 con Q, 1 con K, hoặc 2 con J, 1 con K) sau đó đến tính nút theo thứ tự từ 9 nút trở xuống. Khi mỗi con bạc xem 3 lá bài của mình nếu thấy thuộc trong các trường hợp trên và có khả năng sẽ thắng bài người khác thì sẽ được tố (cược) thêm tiền vào chiếu theo và theo số tiền tùy ý nằm trong khoảng đã quy định, cứ như vậy nếu ai thấy bài nhỏ không đủ khả năng thắng thì sẽ bỏ và vứt bài vào bàn, những con bạc còn lại tiếp tục tố (cược) đến khi còn lại 1 người cuối cùng thì người này sẽ thắng hết số tiền trên chiếu, trường hợp nếu còn lại hai con bạc và không muốn tố (cược) nữa thì cả 2 sẽ mở bài lên và so sánh, bài ai lớn hơn sẽ thắng hết tiền trên chiếu của ván đó. Nếu con bạc thắng trên 1 triệu đồng hoặc có sáp thì phải bỏ tiền "xâu" là 50.000₫ vào trong hộp đựng giấy ăn (tiền mà A thu lợi từ các con bạc).

Quá trình điều tra, các con bạc khai nhận số tiền mang theo sử dụng để đánh bạc, quá trình thắng thua và tiền bị thu giữ thực tế như sau:

- Nguyễn Hữu H7: Khi đi mang theo số tiền 2.900.000 đồng để chơi đánh bạc, quá trình chơi bị thua 300.000 đồng. Khi cơ quan Công an vào bắt quả tang, thu giữ trong người Huyền số tiền 2.500.000 đồng. Trong quá trình chơi H7 đã bỏ 50.000 đồng tiền xâu và đặt 50.000 đồng tiền tẩy ván cuối.

- Nguyễn Trọng T3: Khi đi mang theo số tiền 3.100.000 đồng để chơi đánh bạc, quá trình chơi thắng 500.000 đồng. Khi cơ quan Công an vào bắt quả tang, thu giữ trong người Thêm số tiền 3.450.000 đồng. Quá trình chơi đánh bạc Thêm có bỏ 100.000 đồng mua nước, thuốc lá và đặt 50.000 đồng tiền tẩy ván cuối.

- Nguyễn Duy D: Ban đầu mang theo số tiền 9.000.000 đồng để chơi đánh bạc, quá trình chơi thì thua 2.450.000 đồng. Khi cơ quan Công an vào bắt quả tang, thu giữ trong người Da số tiền 6.500.000 đồng. Đã đặt 50.000 đồng tiền tẩy ván cuối.

- Nguyễn Hữu T4: Ban đầu dùng 9.000.000 đồng để chơi đánh bạc, quá trình chơi thì thắng 1.550.000 đồng. Khi cơ quan Công an vào bắt quả tang, thu giữ trong người Trung số tiền 10.500.000 đồng. Đã đặt 50.000 đồng tiền đặt tẩy ván cuối.

- Phạm Thị H5: Ban đầu mang theo 6.200.000 đồng để chơi đánh bạc, quá trình chơi bị thua 150.000 đồng. Khi cơ quan Công an vào bắt quả tang, thu giữ trong người Hương số tiền 6.000.000 đồng và 50.000 đồng tiền đặt tẩy ván cuối.

- Lê Văn Mến E: Khi đi mang theo 2.000.000 đồng để chơi đánh bạc, quá trình chơi thắng 1.500.000 đồng. Khi cơ quan Công an vào bắt quả tang, thu giữ trong người Em số tiền 3.450.000 đồng và 50.000 đồng tiền đặt tẩy ván cuối.

Đối với số tiền thu trên chiếu bạc, các đối tượng khai nhận số tiền 350.000 đồng là tiền đặt tẩy cho ván mới và 3.600.000 đồng là số tiền dùng để đánh bạc chung của 06 con bạc tham gia đánh bạc. Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ trong hộp đựng giấy là tiền xâu của các con bạc đưa cho A.

Như vậy, tổng số tiền các con bạc Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Duy D, Lê Văn Mến E, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 và L2 (chưa rõ lai lịch) sử dụng để tham gia đánh bạc ngày 06/02/2024 là 36.550.000 đồng (Ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) và Nguyễn Hoàng A đã sử dụng xưởng chế biến gỗ của mình, cung cấp bài Tây 52 lá, chiếu và mền (chiếu bạc) nhằm phục vụ cho các con bạc vào chơi để thu tiền xâu.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Hoàng A, Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình lần lượt tại các bút lục điều tra (BL: 116-129, 141-152, 167-176; BL: 184-204, 211-222; BL: 226- 246, BL: 251- 270).

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

* Thu giữ:

  • 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá bài đã qua sử dụng;
  • 03 (Ba) bộ bài tây 52 lá bài chưa qua sử dụng;
  • Tiền thu thực tế (gồm: trong người của các đối tượng dùng đánh bạc+ trên chiếu bạc + tiền xâu): 36.550.000₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng);
  • 01 (một) cái chiếu;
  • 01 (một) cái mền;
  • 01 (một) hộp nhựa loại đựng giấy;

Hiện số đồ vật, vật chứng trên đã chuyển cơ quan Thi hành án dân sự TP V quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 171/CT-VKS ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố:

  • Bị cáo Nguyễn Hoàng A về tội “Gá bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
  • Các bị cáo: Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4Phạm Thị H5, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A: Từ 50 triệu đồng đến 55 triệu đồng.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3Phạm Thị H5, mỗi bị cáo mức án từ 20 triệu đến 25 triệu đồng; Bị cáo Nguyễn Hữu T4 từ 25 đến 30 triệu đồng.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xử phạt Nguyễn Duy D, Lê Văn M1 Em hình phạt tù thời hạn bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam là 05 tháng 12 ngày tù. Đề nghị tuyên trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá bài đã qua sử dụng; 03 (Ba) bộ bài tây 52 lá bài chưa qua sử dụng; 01 (một) cái chiếu; 01 (một) cái mền; 01 (một) hộp nhựa loại đựng giấy;
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền thu thực tế (gồm: trong người của các đối tượng dùng đánh bạc+ trên chiếu bạc + tiền xâu): 36.550.000đ (Ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 06/02/2024, Đ2 phối hợp Công an phường N, TP V tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Hoàng A đã sử dụng nhà ở của mình và trang bị các vật dụng cần thiết gồm bài Tây 52 lá, chiếu và mền (chiếu bạc), đồng thời phục vụ đồ ăn thức uống theo yêu cầu cho Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền tại căn nhà, địa chỉ: D B, phường N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tổng số tiền thu được của các đối tượng tham gia đánh bạc là: 36.550.000₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).

Hành vi nêu trên của Nguyễn Hoàng A thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;

Hành vi nêu trên của Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 thực hiện đủ yếu tố câu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng A đã thực hiện là nghiêm trọng; hành vi phạm tội mà bị cáo Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 là ít nghiêm trọng. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm trật tự an toàn và nếp sống văn minh của xã hội. Là những người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức pháp luật, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là tệ nạn và luôn bị xã hội lên án nhưng vì muốn hưởng lợi nhanh chóng, coi thường pháp luật nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi gá bạc và đánh bạc. Do đó, cần có một mức hình phạt nghiêm nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi tệ nạn cờ bạc trong toàn xã hội nói chung và trên địa bàn thành phố V nói riêng.

[4]. Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo A là đã sử dụng nhà ở của mình và trang bị các vật dụng cần thiết gồm bài Tây 52 lá, chiếu và mền (chiếu bạc), đồng thời phục vụ đồ ăn thức uống theo yêu cầu để cho các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc. Vì vậy, bị cáo A phải chịu trách nhiệm cao nhất trong vụ án.

Đối với các bị cáo Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 có hành vi đánh bạc nên cũng phải chịu một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà các bị cáo đã gây ra.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Bị cáo A: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

+ Bị cáo: Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 đều có nhân thân tốt, đây là lần đầu phạm tội, đã tỏ ra ăn năn, hối cải nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo đã đủ sức răn đe.

Riêng bị cáo Nguyễn Duy DLê Văn Mến E đã bị bắt tạm giam đến nay đã 05 tháng 12 ngày. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu tiên phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự; trong thời gian bị tạm giam các bị cáo đã nhận thức rõ lỗi lầm của mình nên áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo mức án dưới khung hình phạt, bằng với thời hạn tạm giam là phù hợp. Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Liên quan trong vụ án còn có đối tượng tên L2 (chưa rõ nhân thân lai lịch) có đến đánh bạc, đề nghị Cơ quan Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng: 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá bài đã qua sử dụng; 03 (Ba) bộ bài tây 52 lá bài chưa qua sử dụng; 01 (một) cái chiếu; 01 (một) cái mền; 01 (một) hộp nhựa loại đựng giấy;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo bỏ ra đánh bạc, tiền xâu là: 36.550.000₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).

[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Gá bạc”;

- Các bị cáo: Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hữu H: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T3: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Phạm Thị H5: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

5. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T4: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

6. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D: 05 (Năm) tháng 12 (Mười hai) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2024.

Như vậy, thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam nên căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Nguyễn Duy D được trả tự do tại phiên tòa.

7. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn M1 Em: 05 (Năm) tháng 12 (Mười hai) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2024.

Như vậy, thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam nên căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Lê Văn M1 Em được trả tự do tại phiên tòa.

8. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá bài đã qua sử dụng; 03 (Ba) bộ bài tây 52 lá bài chưa qua sử dụng; 01 (một) cái chiếu; 01 (một) cái mền; 01 (một) hộp nhựa loại đựng giấy.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền: 36.550.000₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 219/BB.THA ngày 31/5/2024 và Ủy nhiệm chi ngày 19/6/2024.

9. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Nguyễn Hoàng A, Phạm Hữu H, Nguyễn Trọng T3, Lê Văn Mến E, Nguyễn Duy D, Nguyễn Hữu T4, Phạm Thị H5, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

10. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm; người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV27);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hình sự sơ thẩm về tội gá bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 227/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gá bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng An và đồng bọn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger