Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp Hôn nhân

và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ.

Ông Trần Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An: bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/6/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh L, H, sinh ngày 07/7/1990.

    Địa chỉ: số P, số B, thôn T, thôn N, khu phát triển kỹ thuật kinh tế thành phố N, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).

    - Người được nguyên đơn ủy quyền giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án: anh Lý Việt B, sinh 1993. Địa chỉ: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

  2. Bị đơn: chị La Thị X, sinh ngày 15/11/2005.

    Nơi cư trú: bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An (vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - anh L, H trình bày như sau:

Anh L, H và chị La Thị X tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An vào ngày 29/11/2023. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng do xa cách, không có nhiều thời gian dành cho nhau; bất đồng quan điểm sống, bất đồng ngôn ngữ nên tình cảm vợ chồng dần rạn nứt. Giữa tháng 12/2023 vợ chồng cắt liên lạc với nhau cho đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, anh L, H làm đơn đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn chị La Thị X.

Về con chung: anh L, H, chị La Thị X không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Về phía bị đơn, chị La Thị X: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập chị X hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để làm việc và tham gia phiên tòa, nhưng chị X không có mặt tại địa phương. Tòa án đã trực tiếp xác minh tại Công an xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An thì được biết: chị La Thị X có hộ khẩu thường trú tại bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An, chị X hiện còn sống, nhưng đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không nắm được. Khi rời khỏi địa phương chị X không thông cáo về thay đổi nơi cư trú. Thông tin từ chị La Thị C (chị gái chị X), cho biết: em gái chị là La Thị X đi khỏi nhà từ tháng 11/2023 (âm lịch), chị X làm gì và cư trú tại địa chỉ nào thì chị C và gia đình không biết. Tuy nhiên, sau khi chị X liên lạc về thì chị C đã cho chị X biết về việc Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết việc ly hôn giữa chị X và L, H nhưng chị X không về để đến Tòa án giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ và đúng địa chỉ của bị đơn. Vì vậy, Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của anh L, H, xem xét, giải quyết vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh L, H được ly hôn chị La Thị X. Về con chung: không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: anh L, H, chị La Thị X chưa yêu cầu, nên không xem xét.

Về án phí: anh L, H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

Anh L, H có quốc tịch Trung Quốc, hiện đang sinh sống tại Trung Quốc. Anh L, H gửi đơn khởi kiện và trình bày yêu cầu giải quyết, nhưng vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia hòa giải, giải quyết vụ án nên đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ủy quyền cho ông Lý Việt B giao, nhận các văn bản của Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng chị La Thị X vắng mặt. Ngày 09 tháng 4 năm 2024, Tòa án đã tiến hành xác minh, lấy lời khai chị La Thị X, nhưng chị X vắng mặt tại nơi cư trú. Theo chị La Thị C (chị gái chị X) thì chị La Thị X đã biết việc Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị X và anh L, H nhưng chị X không về Tòa án làm việc và đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án trên. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử 02 lần tại các địa điểm theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự, nhưng bị đơn – chị La Thị X đều vắng mặt không có lý do.

Căn cứ khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung

[2.1] Về quan hệ hôn nhân

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 29/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa anh L, H và chị La Thị X là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh L, H và chị X sống chung với nhau thời gian rất ngắn, vì khoảng cách địa lý, không có nhiều thời gian dành cho nhau, bất đồng ngôn ngữ, vì thế vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, tình cảm rạn nứt, hai bên chấm dứt liên lạc, quan hệ. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng tình cảm giữa anh L,H và chị X đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L,H, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho anh L, H ly hôn chị La Thị X.

[2.2] Về con chung:

Anh L, H và chị La Thị X chưa có con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Anh L, H không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị La Thị X chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Anh L,H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56; 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - anh L, H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: anh L, H được ly hôn chị La Thị X.
  2. Về con chung: anh L, H và chị La Thị X chưa có con chung.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: anh L, H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0001459 ngày 09/01/2024.
  5. Về quyền kháng cáo:
    1. Anh L, H đang cư trú tại nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    2. Chị La Thị X vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND huyện Con Cuông;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hồ Ngọc Tiếp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 227/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger