|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 227/2024/DS-ST Ngày 12 tháng 7 năm 2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Tống Thị Kim Đ;
- Ông Huỳnh Công N.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt P – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2024/DSST ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn T; địa chỉ: H, T, S, Quảng Ngãi, người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Minh Đ (Văn bản ủy quyền ngày 23/11/2023) có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Bạch N.Địa chỉ: G đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, tại các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn, trình bày:
Đầu năm 2022, ông Nguyễn Văn T có thường xuyên giao dịch cung cấp mặt hàng vải cho bà Nguyễn Bạch N (sinh năm 1973). Việc mua bán diễn ra thuận lợi cho đến tháng 04/2022, bà N có dấu hiệu chậm trễ thanh toán tiền mua hàng. Do tin tưởng vào mối quan hệ làm ăn lâu dài nên ông T đã cho bà N nợ tiền thanh toán nhiều lần. Tính đến tháng 10/2022, tổng số tiền bà Nguyễn Bạch N đã nợ ông T là 400.000.000 (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng). Bên phía ông T có đốc thúc công nợ để tái tạo cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, tuy nhiên bà N lấy lý do khó khăn tài chính để không thực hiện việc thanh toán.
Đến ngày 08/10/2022, sau khi ông T liên tục yêu cầu trả tiền, bà Nguyễn Bạch N đã ký 01 giấy nhận nợ, với nội dung hiện đang nợ tiền mua vải của ông T số tiền nợ là 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng). Bà N cam kết sẽ thanh toán đầy đủ cho ông T chậm nhất vào ngày 12/11/2022.
Đến thời hạn cam kết trả tiền nợ, bà N không tiến hành thanh toán như đã hứa, nên ông T đã cố gắng liên hệ đến bà N nhưng bà N trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, cắt liên lạc với ông T, ông T có đến nhà và cơ sở kinh doanh của bà N nhưng có bảo vệ ngăn lại cản trở việc ông T gặp bà N để thu hồi công nợ.
Việc bà N không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thanh toán số nợ nêu trên đã làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của ông T bị xâm phạm nghiêm trọng. Do đó, ông T khởi kiện bà N để yêu cầu bà N phải trả lại cho ông T toàn bộ số tiền nợ còn lại là 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) ngay sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật trên số tiền 400.000.000 đồng (Bằng chữ:Bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh tạm tính là 46.666.666 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T rút lại yêu cầu tính lãi chỉ yêu cầu bà N thanh toán số nợ gốc 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) còn thiếu.
Bị đơn bà Nguyễn Bạch N trình bày: Tôi có mua vải của ông Nguyễn Văn T như nguyên đơn trình bày và còn nợ ông tuyển số tiền 400.000.000 đồng. Do tình hình kinh tế gặp khó khăn, nên chưa có khả năng thanh toán toàn bộ số nợ nói trên cho ông T
Với yêu cầu khởi kiện của ông T tôi đề nghị mỗi tháng trả cho ông T 50.000.000 đồng vào ngày 15 đến 20 hàng tháng. Việc thanh toán bắt đầu từ tháng 6/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[2] 1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
[3] Ông Nguyễn Văn T khởi kiện tranh chấp về hợp đồng vay tài sản đối với bà Nguyễn Bạch N; có địa chỉ tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là Tranh chấp về hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Bị đơn bà Nguyễn Bạch N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[5] 2. Về các yêu cầu của đương sự, hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[6] Nguyên đơn, yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ 400.000.000 đồng trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[7] Xét về số nợ gốc và nợ lãi: Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với các nội dung trên và xác nhận tổng số tiền gốc còn lại bị đơn chưa trả cho nguyên đơn là 400.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ là 400.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả làm một lần số tiền nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 440 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Áp dụng Luật thi hành án dân sự;
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc:
- Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu bà Nguyễn Bạch N thanh toán số tiền lãi 46.666.666 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Bạch N thanh toán cho Ông Nguyễn Văn T số tiền 400.000.000 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ ngày Ông Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, bà Nguyễn Bạch N phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suât được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Bạch N chịu 20.000.000 đồng án phí (Hai mươi triệu đồng). Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại 10.933.320 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0037998 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Viết Bình |
Bản án số 227/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 227/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với bà N
