Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 227/2024/DS-PT

Ngày: 10/5/2024

V/v: Yêu cầu hủy QĐ cấp GCNQSDĐ;

Hủy GCNQSDĐ và Yêu cầu

chia di sản thừa kế".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;

Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Thắng;

Ông Phạm Văn Lợi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Liên – Thư ký Toà án nhân dân

cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Lã Thị Tú Anh,

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 512/2023/TLPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Công nhận hiệu lực di chúc, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1912/2024/QĐ-PT, ngày 01 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1965. Địa chỉ: Đ, thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng P, sinh năm 1979 và chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Đ, thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của anh P, chị H: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1996. Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương và anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1984. Địa chỉ: số B đường Đ, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1934 (tên gọi khác là Nguyễn Thị T1). Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt
    2. Ông Nguyễn Trọng P1, sinh năm 1949. Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt) Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1996. Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (có mặt) và Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1984. Địa chỉ: số B đường Đ, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. (có mặt)
    3. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1956. Địa chỉ: Đ, thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt.
    4. Bà Nguyễn Thị T2 (tên gọi khác Nguyễn Thị T3), sinh năm 1959. Địa chỉ: Đ, thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
    5. Anh Hà Ngọc S, sinh năm 1982. Địa chỉ: số E T, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
    6. Chị Đào Thị T4, sinh năm 1992. Địa chỉ: số E T, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
    7. Anh Nguyễn Duy Q, sinh năm 1983. Địa chỉ: xí nghiệp S thị xã A, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
    8. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977. Địa chỉ: thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
    9. Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
    10. Cháu Nguyễn Duy Đ, sinh năm 2009 và cháu Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 2014. Người giám hộ: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1979. Đều có địa chỉ: thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
    11. Anh Nguyễn Trọng C1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Đ, thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt.
    12. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1979. Địa chỉ: số D ngõ B Đ, quận Đ, thành phố Hà Nội. vắng mặt.
    13. Anh Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
    14. Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1962. Địa chỉ: N, EaKmut, E, Đ. Vắng mặt.
    15. Anh Nguyễn Trọng H3, sinh năm 2000. Địa chỉ: N, EaKmut, E, Đ. Vắng mặt.
    16. UBND huyện N, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nhật T6, chức vụ: Chủ tịch UBND huyện; có đơn xin xét xử vắng mặt.
    17. UBND xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân T7, chức vụ: chủ tịch UBND xã V; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị và anh P có mối quan hệ chị em con chú con bác ruột. Bố chị và bố anh P đều do cụ Nguyễn Trọng T8 và cụ Nguyễn Thị T9 sinh ra. Cụ T8, cụ T9 sinh được 07 người con. Đến thời điểm này có 04 người còn sống, 03 người đã chết. Cụ thể gồm bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Trọng Ú (là liệt sĩ và là bố của chị); ông Nguyễn Trọng C2; ông Nguyễn Trọng P1; bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị T10, bà Nguyễn Thị T3. Ngoài những người con trên, ông bà nội chị không có con chung, con nuôi nào khác. Cụ T8 chết năm 1963, cụ T9 chết năm 2002. Cụ T9 chết có để lại di chúc. Thửa đất số 133 tờ bản đồ 09 diện tích 294m² địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương đang tranh chấp hiện nay có nguồn gốc từ cụ T9 được UBND xã giao đất. UBND xã giao đất khi cụ T8 đã chết nên đây là tài sản riêng của cụ T9. Quá trình sử dụng đất cụ T9 và chị là người trực tiếp quản lý, sử dụng, các con của hai cụ đã trưởng thành và có chỗ ở riêng biệt. Do bố chị là liệt sĩ, chết khi chị còn nhỏ tuổi, mẹ chị đi lấy chồng khác nên chị phải sinh sống cùng bà nội là cụ T9. Năm 1999 cụ T9 có thiết lập bản di chúc để định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 133 nêu trên. Trong di chúc có chữ ký của các con, bản thân chị cũng ký vào di chúc. Mặc dù ký nhưng bản thân chị không hiểu rõ nội dung di chúc. Sau này chị mới được thông báo lại nội dung di chúc thì được biết cụ T9 đã định đoạt 02 thửa đất, 01 thửa đất số 133 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ; 01 thửa giáp cạnh thửa 133 là thửa 134 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Trọng C2. Cụ T9 chết năm 2002, bản di chúc và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc do ông P1 quản lý. Chị vẫn là người sử dụng trên thửa đất nhưng chị không hiểu vì sao thửa đất số 133 lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Trọng P và vợ là chị Nguyễn Thị Thu H. Chị biết nội dung bản di chúc có định đoạt thửa đất số 133 nhưng hiệu lực của bản di chúc chưa phát sinh vì chị vẫn còn sống. Đây là bản di chúc có điều kiện do cụ T9 xác lập. Nay thửa đất số 133 được UBND huyện N cấp cho anh P chị H không đúng nội dung của di chúc nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết 04 yêu cầu.

Thứ nhất: Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của bản di chúc được cụ Nguyễn Thị T9 thiết lập ngày 15/12/1999.

Thứ hai: Đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N, tỉnh Hải Dương cấp cho anh P, chị H vào năm 2008, cấp đổi lại năm 2016.

Thứ ba: Đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu văn bản từ chối nhận di sản được lập tại UBND xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 27/3/2008.

Thứ tư: Trường hợp bản di chúc không có hiệu lực, đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế thửa đất số 133 theo quy định của pháp luật. Chị có nguyện vọng được hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật vì hiện nay chị không có chỗ ở nào khác, chị không có chồng, không có con, không có nơi nương tựa nên chỗ ở này đối với chị vô cùng quan trọng. Đề nghị Tòa án xem xét đến nguyện vọng của chị. Trong các đồng thừa kế, ai có nguyện vọng cho chị phần di sản thì chị cũng nhất trí nhận.

Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải bị đơn anh P, chị H và người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:

Về quan hệ nhân thân. Cụ T8 và cụ T9 sinh được 07 người con như nguyên đơn trình bày là chính xác. Về nguồn gốc thửa đất số 133, nguyên đơn xác định cụ T9 được UBND xã giao cho khi cụ T8 đã chết là đúng sự thật, nguyên đơn cũng không có ý kiến gì. Cụ T8 chết năm 1963, cụ T9 chết năm 2002. Trước khi chết cụ có để lại bản di chúc và cụ đã định đoạt thửa đất số 133 tờ bản đồ 09. Cụ thể cụ T9 được giao 01 thửa đất, đến năm 1990 cụ T9 tách làm 02 thửa, 01 thửa vẫn mang tên cụ chính là thửa đất số 133; 01 thửa được cụ tách cho con trai Nguyễn Trọng C2 là thửa đất số 134. Quá trình sử dụng đất, cụ T9 và chị N vẫn là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Sau năm 2002 cụ T9 chết thì chị N vẫn sinh sống trên thửa đất này. Ngày 15/12/1999 cụ T9 thiết lập bản di chúc với sự chứng kiến của các con. Tại thời điểm năm 1999 cụ vẫn minh mẫn, do cụ không biết chữ nên sau khi cụ trình bầy thì ông P1 là bố anh đã ghi chép lại ý chí của cụ, cuối bản di chúc cụ đã điểm chỉ vào với sự chứng kiến của các con và trưởng thôn. Sau khi các con ký xác nhận, bản di chúc được mang ra UBND xã V ký, đóng dấu xác nhận. Nội dung bản di chúc thể hiện: Cụ T9 định đoạt thửa đất số 133 cho anh P là người quản lý. Tuy nhiên, khi chị N còn sống thì chị N quản lý và anh P có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, chết phải lo ma và thờ cúng trên mảnh đất này. Năm 2008 chị N có văn bản từ chối di sản, căn cứ vào bản di chúc và văn bản từ chối di sản, ông P1 đã làm thủ tục sang tên thửa đất số 133 cho anh Nguyễn Trọng P và vợ là Nguyễn Thị Thu H. Toàn bộ tài sản trên đất hiện nay là do cụ T9 để lại, chị N vẫn là người quản lý di sản này. Nay chị N làm đơn khởi kiện, quan điểm của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn như sau.

Đối với yêu cầu công nhận hiệu lực của bản di chúc. Bị đơn hoàn toàn nhất trí và xác định, bản di chúc cụ T9 lập đúng ý chí của cụ.

Đối với yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản từ chối nhận di sản do bà N lập ngày 27/3/2008. Bị đơn không nhất trí vì văn bản trên được lập trên cơ sở tự nguyện của nguyên đơn. Nguyên đơn ký không bị ai ép buộc, có xác nhận của UBND xã V là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh chị. Anh chị không nhất trí vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được lập trên cơ sở bản di chúc, ý chí của cụ T9 là để thửa đất số 133 cho anh quản lý, sử dụng. Trình tự thủ tục ban hành đúng quy định nên không có căn cứ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh.

Trường hợp Tòa án xác định bản di chúc không có hiệu lực pháp luật mà tiến hành chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Anh không nhất trí, tuy nhiên phần di sản ông P1 được hưởng theo quy định, anh đề nghị Tòa án chia cho ông P1 bằng hiện vật để đảm bảo quyền lợi cho ông P1. Cho dù bản di chúc có hiệu lực hay không có hiệu lực, không hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh thì bản thân anh vẫn xác định, anh sẽ để cho chị N sử dụng thửa đất này đến khi nào chị N chết thì anh mới tiếp quản.

Quan điểm của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

+ Quan điểm của bà T3 và bà G:

Về quan hệ nhân thân, họ tên bố mẹ, năm các cụ chết, hai bà hoàn toàn nhất trí với phần trình bầy của nguyên đơn. Thửa đất hiện nay chị N đang sử dụng có nguồn gốc từ cụ T9 được UBND xã giao cho vào những năm 1970. Hoàn cảnh của chị N rất khó khăn, bố là liệt sĩ, mẹ đi lấy chồng khác, bản thân thì khuyết tật, không có chồng không có con, lớn lên dưới sự chăm sóc của bà nội là cụ T9. Các bà là cô ruột của chị. Thửa đất đang tranh chấp hiện nay do cụ T9 và chị N sử dụng, anh P chị H cũng như ông P1 chưa bao giờ quản lý, sử dụng thửa đất này. Năm 1999 cụ T9 có viết di chúc hay không các bà không nhớ rõ. Tuy nhiên, các bà xác định, ngày 15/12/1999 là ngày giỗ cụ T8, các con tập trung về cúng giỗ và cụ T9 có thống nhất về số tiền các con nợ cụ, các con cùng ký vào văn bản đó chứ không phải bản di chúc. Tuy nhiên, đó là do các bà nhớ như vậy nhưng không có căn cứ chứng minh. Tòa án cho các bà xem nội dung di chúc và chữ ký của các bà thì các bà thừa nhận đó là do các bà ký. Sau khi cụ T9 chết, các đồng thừa kế không lần nào họp bàn về việc chia di sản thừa kế hay thực hiện nội dung bản di chúc mà không hiểu sao thửa đất số 133 của cụ T9 lại được UBND huyện N cấp cho anh P chị H. Điều này các bà không nhất trí. Nay chị N làm đơn khởi kiện anh P, chị H, các bà hoàn toàn nhất trí với quan điểm trên, đề nghị Tòa án chấp nhận. Trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế thửa đất số 133 theo quy định của pháp luật, phần các bà được hưởng, các bà tự nguyện cho lại chị N để đảm bảo chỗ ở. Toàn bộ tài sản trên đất là do cụ T9 được UBND xã và các tổ chức xã hội xây dựng nhà tình nghĩa cho. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho chị N.

+ Quan điểm của bà D:

Về quan hệ nhân thân, bà đồng quan điểm với các đương sự khác, Về nguồn gốc thửa đất số 133 bà cũng xác định, thửa đất là do cụ T9 mẹ bà để lại. Quá trình sử dụng đất thì cụ T9 và chị N trực tiếp quản lý sử dụng. Đối với nội dung bản di chúc được lập vào ngày 15/12/1999, theo biên bản làm việc do UBND xã H lập với bà D thì bà xác định, bà không biết nội dung bản di chúc. Sau đó bà đã thay đổi quan điểm xác định cụ T9 có lập bản di chúc và nội dung đúng như văn bản thể hiện. Trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế thửa đất theo quy định của pháp luật, phần di sản thừa kế bà được hưởng bà cũng tự nguyện cho lại chị N vì hiện nay chị hoàn cảnh khó khăn, không có chồng, không có con và không có chỗ ở nào khác.

+ Quan điểm của anh C1, chị Y, anh H1, bà H2, anh H3 là vợ hai và các con của ông Nguyễn Trọng C2 xác định:

Về quan hệ nhân thân bà và các anh chị nhất trí với phần trình bầy của nguyên đơn. Về nguồn gốc thửa đất cũng nhất trí đây là thửa đất cụ T9 được UBND xã giao cho. Năm 1990 cụ tách thửa đất được giao làm 02 thửa, 01 thửa vẫn mang tên cụ, thửa 134 cụ tách cho ông C2. Ngày 15/12/1999 cụ T9 lập bản di chúc và định đoạt 02 thửa đất trên. Nay nguyên đơn đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của bản di chúc nhưng chỉ đề nghị Tòa án xem xét đối với thửa đất số 133, các đồng thừa kế của ông C2 cũng không có ý kiến gì. Tòa án cho các anh chị xem nội dung bản di chúc, chữ ký ở phần cuối không có chữ ký của ông C2. Tuy nhiên, các đồng thừa kế vẫn đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của bản di chúc. Mặc dù bản di chúc có hiệu lực pháp luật nhưng quyền lợi của anh P chưa được phát sinh bởi bà N chưa chết, bản di chúc này giao thửa đất số 133 cho anh P được sử dụng nhưng có điều kiện kèm theo, khi điều kiện chưa được thực hiện thì anh P cũng chưa có quyền. Do vậy, chị N đề nghị Tòa án chấp nhận nội dung bản di chúc và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P chị H là đúng quy định. Trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 133 thì phần ông C2 được hưởng, các đồng thừa kế của ông C2, kế thừa quyền nghĩa vụ đồng ý nhận nhưng tự nguyện cho lại chị N để chị N quản lý sử dụng.

+ Quan điểm của anh S chị T4:

Anh chị là con đẻ của bà Nguyễn Thị T10, bà T10 là con đẻ của cụ T8 và cụ T9. Về quan hệ nhân thân và nguồn gốc thửa đất số 133 anh chị nhất trí với phần trình bầy của nguyên đơn. Nay anh chị được biết, thửa đất số 133 đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cho anh P, chị H, anh chị không nhất trí vì thửa đất này là của cụ T9. Anh chị không được biết nội dung bản di chúc, tuy nhiên các anh chị em và các cô còn sống đều thừa nhận nội dung bản di chúc thì anh chị cũng nhất trí. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án chấp nhận. Trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế thửa đất số 133 theo quy định của pháp luật, phần anh chị được hưởng kế thừa từ bà T10 thì anh chị nhận nhưng để lại cho bà N quản lý, sử dụng nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này vẫn được mang tên anh chị cùng bà N nhằm đảm bảo cho việc sử dụng, thờ cúng các cụ.

+ Quan điểm của ông P1:

Ông là con đẻ của cụ T9 và cụ T8. Về quan hệ nhân thân ông nhất trí với phần trình bầy của các đồng thừa kế khác. Về nguồn gốc thửa đất, thửa đất do UBND xã giao cho cụ T9 hay giao cả cho cụ T8 và cụ T9 thì ông không nắm rõ. Tuy nhiên, quá trình sử dụng đất do gia đình đông con nên các con đều ra chỗ khác để tạo lập. Riêng thửa đất này cụ T9 và chị N vẫn sinh sống. Năm 1990 cụ T9 tách làm 02 thửa. 01 thửa mang tên anh C2, 01 thửa mang tên cụ T9. Năm 1995 kinh tế khó khăn anh C2 đã bán thửa đất này, cụ T9 mua lại nhưng với quan hệ mẹ con nên cụ vẫn để tên anh C2. Ngày 15/12/1999 cụ T9 đứng ra phân chia di sản thừa kế, cụ đã định đoạt cả hai thửa đất số 133 và thửa đất số 134 cho anh P và các đồng thừa kế khác. Năm 2008 chị N có văn bản từ chối nhận di sản, đồng thời căn cứ vào nội dung bản di chúc, ông đã làm thủ tục đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh P chị H. Về trình tự thủ tục cấp là đúng quy định, ý chí bàn giao thửa đất cho anh P chị H là đúng ý chí của cụ T9. Bản thân ông và vợ chồng anh P vẫn xác định, thửa đất cùng tài sản trên đất sẽ giao cho chị N sử dụng đến khi chị N chết. Do vậy, ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, phần di sản ông được hưởng từ cụ Thìn ông tự nguyện nhận bằng hiện vật, ông được hưởng bao nhiêu đất ông cũng nhất trí nhận. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Quan điểm của UBND huyện N:

Thửa đất số 133 tờ bản đồ 09 diện tích 294m² địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương có nguồn gốc từ cụ Nguyễn Thị T9 để lại. Năm 1990 cụ T9 được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2008 UBND huyện nhận được hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P. Căn cứ vào bản di chúc, căn cứ vào văn bản từ chối nhận di sản của chị Nguyễn Thị N. UBND huyện đã xem xét hiện trạng thửa đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh P chị H là đúng quy định. Đến năm 2016 do thay đổi chứng minh thư nhân dân nên anh P chị H đề nghị UBND huyện N đính chính số chứng minh thư nhân dân trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên UBND huyện N đã cấp đổi lại cho anh P chị H nhưng diện tích, số thửa đất vẫn được giữ nguyên. Nay nguyên đơn đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND huyện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định, làm sao đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-PT ngày 14/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương quyết định:

Căn cứ: Điều 624; Điều 625; Điều 627; Điều 628; Điều 631 của Bộ luật dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Điều 38; khoản 1 Điều 227; Điều 266, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Xử. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1]. Tuyên bố bản di chúc được cụ Nguyễn Thị T9 lập ngày 15/12/1999 đối với thửa đất số 133 tờ bản đồ 09 diện tích 331m² đất (Năm 2016 cấp đổi lại là thửa đất số 111, tờ bản đồ 48 diện tích còn là 294m². Diện tích theo hiện trạng được sử dụng là 308m²) địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương có hiệu lực pháp luật. Đây là bản di chúc có điều kiện.

[2]. Chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của chị Nguyễn Thị N được lập ngày 27/3/2008.

[3]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 391006 được UBND huyện N, tỉnh Hải Dương cấp cho anh Nguyễn Trọng P, chị Nguyễn Thị Thu H vào ngày 28 tháng 4 năm 2016 đối với thửa đất số 111 tờ bản đồ số 48 diện tích 294m² địa chỉ xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Giao cho chị Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 111 tờ bản đồ 48 diện tích 308m² có kích thước theo hình vẽ B3A8B4BA3B1B2 đến B3. Địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương cùng tài sản trên đất cho đến khi chị N chết. Chị N phải thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền quản lý, sử dụng thửa đất theo quy định của Bộ luật dân sự.

Sau khi chị N chết anh P có quyền đề nghị các cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh nếu anh thực hiện đúng nghĩa vụ trong bản di chúc. Trường hợp anh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong bản di chúc, các đương sự có quyền thỏa thuận phân chia di sản hoặc đề nghị Tòa án giải quyết phân chia di sản bằng vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2023, bị đơn Nguyễn Trọng P và ngày 28/9/2023, ông Nguyễn Trọng P1 đều có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị sửa án sơ thẩm (không hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P).

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Bị đơn và người đại diện trình bày đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Cho rằng mình vẫn đang chăm sóc bà N tốt và thực hiện các điều kiện nêu trong di chúc.

Nguyên đơn trình bày: đề nghị giữ nguyên như án sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo:

Với nội dung được ghi rõ trong bản di chúc, thì đây là bản di chúc có điều kiện, ý chí của cụ T9 rất rõ ràng, trường hợp anh P được quản lý di sản thừa kế thửa đất số 133 khi anh phải thực hiện nghĩa vụ kèm theo với chị N. Nội dung cụ T9 định đoạt thửa đất số 133 trong bản di chúc không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức nên có giá trị pháp lý. Điều kiện anh P được hưởng thừa kế chưa xẩy ra và anh chưa thực hiện nghĩa vụ với chị N nên việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì thửa đất số 133 sẽ thuộc quyền sử dụng chung của các đồng thừa kế. Theo quy định tại Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Cụ T9 chết năm 2002 nhưng đến năm 2008 chị N mới có văn bản từ chối là quá thời hạn theo quy định của Bộ luật dân sự. Do vậy, bản án sơ thẩm tuyên vô hiệu văn bản từ chối nhận di sản của chị N ngày 27/3/2008 là có căn cứ. Do văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của chị N vô hiệu, bản di chúc có điều kiện chưa được thực hiện thì quyền của anh P cũng chưa được phát sinh nên việc UBND huyện N, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh là chưa đúng nên bản án sơ thẩm hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P, chị H là có căn cứ.

Kháng cáo của ông Nguyễn Trọng P1, Nguyễn Trọng P là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận và trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

[1] Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết vụ án cấp sơ thẩm là đúng thẩm quyền đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị N đề nghị công nhận hiệu lực của bản di chúc và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cụ Nguyễn Văn T11 chết năm 1963, cụ Nguyễn Thị T9 chết năm 2002. Về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T9 vẫn trong thời hạn 30 năm theo quy định của BLTTDS, cụ T11 đã hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, các đương sự không ai đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu nên Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Trọng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng P1 (đều có cùng nội dung kháng cáo).

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất với nhau và phù hợp với xác nhận của chính quyền địa phương về hàng thừa kế của T11 và cụ T9. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ cũng như người thừa kế thế vị của các con cụ T11, cụ T9 vào tham gia tố tựng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: Anh S, chị T4 con của bà T10; bà H2, anh C1, anh H1, anh H3, chị Y là con của ông C2; anh Q, chị L, chị K, cháu Đ, cháu T12 là con riêng của bà L vợ ông Ú, đảm bảo theo đúng quy định tại Bộ luật Dân sự. Các đương sự trình bày thống nhất với nhau, phù hợp với bản đồ, sổ mục kê 299 còn lưu trữ tại UBND xã V, di sản thừa kế là thửa đất số 133 tờ bản đồ 09 diện tích 294m² địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Thửa đất này có nguồn gốc từ cụ T9 để lại, cụ T9 được giao đất và được ghi nhận trong hồ sơ 299, được đăng ký tên cụ Nguyễn Thị T9.

[3] Cụ T9 chết năm 2002. Trước khi chết cụ có để lại di chúc và các đương sự đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của bản di chúc. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định “Tuyên bố bản di chúc được cụ Nguyễn Thị T9 lập ngày 15/12/1999 đối với thửa đất số 133 tờ bản đồ 09 diện tích 331m² đất (Năm 2016 cấp đổi lại là thửa đất số 111, tờ bản đồ 48 diện tích còn là 294m². Diện tích theo hiện trạng được sử dụng là 308m²) địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương có hiệu lực pháp luật.” Sau xét xử sơ thẩm, không đương sự nào kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về quyết định này.

[4] Cụ T9 định đoạt cả hai thửa đất số 133 và thửa đất số 134 trong bản di chúc lập ngày 15/12/1999 nhưng các đương sự chỉ tranh chấp về nội dung cụ định đoạt đối với thửa đất số 133, nên Tòa án chỉ đánh giá ý chí của cụ đối với thửa đất số 133 để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể cụ T9 ghi rõ nội dung trong bản di chúc lập ngày 15/12/1999 “Năm 1997 vì hoàn cảnh nhà cửa khó khăn cho nên Đảng và nhà nước đã hỗ trợ tôi số tiền 4.000.000đ để làm nhà tình nghĩa. Tôi đã làm được 03 gian nhà xây gạch chỉ đổ hiên và ½ gian chữ U mái lợp Pờ rô và một gian bếp. Toàn bộ công trình đó làm trên mảnh đất phía Tây, diện tích 311m², cũng trên mảnh đất này có 06 cây vải. Như vậy, cái nhà này là nhà tình nghĩa. Hiện nay cháu N là con liệt sĩ Ú ở với tôi. Nếu sau này tôi chết đi mà cháu N đi lấy chồng thì giao cho cháu P (con anh P1) ở trông nom, thờ cúng gia tiên và liệt sĩ Úc. Nếu cháu N mà không lấy chồng ở nhà thì chông nom ở đến khi chết giao cho cháu P chứ không được nhượng bán cho bất kỳ ai. Trường hợp cháu N đi kiếm đứa con thì cũng không được ở mà phải giao lại cho cháu P (vì đây là nhà tình nghĩa, nơi thờ cúng gia tiên). Nếu cháu N không lấy chồng không con, khi tuổi cao ốm đau, cháu P phải chông nom, săn sóc chết phải làm ma và thờ cúng. Cũng ở mảnh đất này có 06 cây vải tôi cho cháu N được thu hoạch 03 cây vải phía nam, còn 03 cây phía bắc giáp ông T13 thì giao cho anh P1 vun sới thu hoạch để lo cho việc trả nghĩa tư gia lâu dài mãi mãi”. Như vậy, ý chí của cụ T9 rõ ràng, cụ phân tích từng trường hợp và căn cứ vào hoàn cảnh thực tế thì trường hợp anh P được quản lý di sản thừa kế là thửa đất số 133 khi anh phải thực hiện nghĩa vụ kèm theo với điều kiện chăm sóc chị N, có trách nhiệm mai táng và thờ cúng tổ tiên. Chị N và ông P1 mỗi người được hưởng hoa lợi từ 03 cây vải. Mặc dù, theo quy định của pháp luật dân sự thì không có quy định về di chúc có điều kiện. Tuy nhiên, nội dung cụ T9 định đoạt thửa đất số 133 trong bản di chúc không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức nên có giá trị pháp lý cần được ghi nhận. Quyền quản lý gắn liền với quyền sử dụng. Do vậy, điều kiện anh được hưởng đi đôi với nghĩa vụ nhưng nghĩa vụ làm phát sinh quyền của anh chưa xẩy ra và anh chưa thực hiện nghĩa vụ đó nên việc ông P1 tự ý làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh P chị H vào năm 2008, sau đó cấp đổi lại năm 2016 là chưa đúng ý chí của cụ T9. Do vậy, thửa đất số 133 chưa thuộc quyền sử dụng của anh P hay bất kỳ ai trong các đồng thừa kế của cụ T9. Chị N vẫn được quyền sử dụng thửa đất cho đến khi chị chết. Anh P chưa phải là chủ thể có quyền sử dụng đất duy nhất của thửa đất trên nên UBND huyện N, tỉnh Hải Dương làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh là chưa đảm bảo về mặt chủ thể. Do vậy, yêu cầu khởi kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P, chị H của nguyên đơn được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.

[5] Do thửa đất số 133 là tài sản chung của các đồng thừa kế, chưa chia. Và ý chí của cụ T9 người để lại di sản là giao cho cả P và N để quản lý, trông nom, chăm sóc nhau, thờ cúng gia tiên và liệt sĩ Úc. Cụ T9 đã nêu cụ thể từng trường hợp và để thực hiện được thì cả anh P và chị N đều phải cùng có quyền quản lý, sử dụng, chăm sóc, tu bổ di sản. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giao quyền quản lý, sử dụng di sản này cho chị N tiếp tục quản lý sử dụng cho đến khi chết mà không giao cho cả anh P là không chính xác.

Sau khi chị N kết hôn hoặc chết, thì anh P được quyền quản lý thửa đất số 133, trường hợp anh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ được cụ T9 giao trong bản di chúc thì thửa đất số 133 sẽ được xác định là di sản thừa kế của cụ T9 để lại. Các đương sự có quyền thỏa thuận phân chia di sản hoặc khởi kiện đề nghị Tòa án phân chia di sản theo quy định của pháp luật, trong vụ án dân sự khác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo của ông Nguyễn Trọng P1, Nguyễn Trọng P, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là chưa phù hợp. Vì nội dung được ghi rõ trong bản di chúc, có các điều kiện, trường hợp anh P được quản lý di sản thừa kế thửa đất số 133 khi anh phải thực hiện nghĩa vụ kèm theo với chị N theo ý chí của cụ T9 rất rõ ràng.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Nguyễn Trọng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng P1.

3.Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận và sửa bản án án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Nguyễn Trọng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng P1; Sửa bản án sơ thẩm. Cụ thể:

Căn cứ: Điều 624; Điều 625; Điều 627; Điều 628; Điều 631 của Bộ luật dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Điều 38; khoản 1 Điều 227; Điều 266, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Tuyên bố bản di chúc được cụ Nguyễn Thị T9 lập ngày 15/12/1999 đối với thửa đất số 133 tờ bản đồ 09 diện tích 331m² đất (Năm 2016 cấp đổi lại là thửa đất số 111, tờ bản đồ 48 diện tích còn là 294m². Diện tích theo hiện trạng được sử dụng là 308m²) địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương có hiệu lực pháp luật. Đây là bản di chúc có điều kiện.
  2. Chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của chị Nguyễn Thị N được lập ngày 27/3/2008.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 391006 được UBND huyện N, tỉnh Hải Dương cấp cho anh Nguyễn Trọng P, chị Nguyễn Thị Thu H vào ngày 28 tháng 4 năm 2016 đối với thửa đất số 111 tờ bản đồ số 48 diện tích 294m² địa chỉ xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Giao cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trọng P được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 111 tờ bản đồ 48 diện tích 308m² có kích thước theo hình vẽ B3A8B4BA3B1B2 đến B3. Địa chỉ thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương cùng tài sản trên đất theo các điều kiện được trong bản di chúc lập ngày 15/12/1999 do cụ Nguyễn Thị T9 lập. Chị N và anh P thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền quản lý, sử dụng thửa đất theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Trọng P có quyền đề nghị các cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh theo các điều kiện và nghĩa vụ anh thực hiện trong bản di chúc lập ngày 15/12/1999 của cụ Nguyễn Thị T9. Trường hợp anh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong bản di chúc, các đương sự có quyền thỏa thuận phân chia di sản hoặc đề nghị Tòa án giải quyết phân chia di sản bằng vụ án dân sự khác.

[2] Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả anh Nguyễn Trọng P số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000461 ngày 27/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về yêu cầu hủy qđ cấp gcnqsdđ; hủy gcnqsdđ và yêu cầu chia di sản thừa kế.

  • Số bản án: 227/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy QĐ cấp GCNQSDĐ; Hủy GCNQSDĐ và Yêu cầu chia di sản thừa kế.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger