Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 227/2025/HS-PT

Ngày: 09-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt

Ông Lê Văn An

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà: Kiểm sát viên.

Ngày 09/4/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 762/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo, do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2024/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, bị kháng nghị:

1. Trần Viết H; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 11 tháng 9 năm 1996 tại: tỉnh Nam Định. Số Thẻ CCCD: [...] cấp ngày 22/02/2016. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C. Nơi thường trú: Thôn C, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện tại: Tổ G, Khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông Trần Viết H1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1996 và có 01 con, sinh năm 2019.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 08/3/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 116/LTG-CSHS-Đ4 ngày 09/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

2. Nguyễn Thanh D; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 18 tháng 11 năm 2000 tại: tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Số CMND: [...] cấp ngày 31/3/2015. Nơi cấp: Công an tỉnh B. Nơi thường trú: xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nơi ở hiện tại: Tổ G, Khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 14/6/2021, bị UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính tổng số tiền 1.450.000 đồng vì đã có hành vi vi phạm về trật tự đô thị. Con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974 và bà Trần Thị N, sinh năm 1969. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ, con.

Bị bắt giữ ngày 05/10/2021, chuyển tạm giam ngày 08/10/2021 theo Lệnh tạm giam số 148/L-CSHS-Đ4 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

3. Nguyễn Văn B; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 29 tháng 4 năm 2004 tại: tỉnh Đồng Nai. Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện tại: Khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án, tiền sự: không. Con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1980. Bị cáo là con một trong gia đình và chưa có vợ, con.

Bị bắt giữ ngày 20/7/2022, chuyển tạm giam ngày 29/7/2022 theo Lệnh tạm giam số 296/LTG-CSHS-Đ4 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Phan Mạnh T1, sinh năm 1993, ngụ tại: Khu Dân cư T, thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có mối quan hệ quen biết với Trần Viết H. Ngày 18/11/2020, H dẫn anh T1 đến gặp nam thanh niên tên T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại ấp D, xã T, huyện V để bàn chuyện làm ăn. Sau khi gặp nhau, ăn nhậu thì anh T1 cùng với H, T2 và nam thanh niên tên D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đánh bài thắng thua bằng tiền với nhau. Anh T1 mang theo 10.000.000 đồng nhưng chơi thua hết. Lúc này, Nguyễn Minh P1 mang tiền đến đưa cho H để H cho anh T1 mượn tiếp tục đánh bài, mỗi lần mượn khoảng 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Sau đó, P1, H không cho T1 mượn thêm tiền nên cả nhóm nghỉ đánh bài. H viết giấy cho anh T1 vay số tiền 07 tỷ đồng và đưa cho anh T1 ký tên.

Vào tháng 7/2020, Nguyễn Thanh D làm phụ bếp cho quán nhậu (không rõ tên) do Trần Viết H, sinh năm 1996, đăng ký thường trú tại: thôn C, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định cùng vợ là Nguyễn Thị Như Ý làm chủ. Quá trình làm việc, D được vợ chồng H, Ý cho ở chung nhà tại tổ G, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 27/01/2021, D đang chơi bida với một người tên T2 (chưa xác định họ tên cụ thể, thuê trọ ở khu vực Ngã tư Phú Thọ, phường T, thành phố B) thì H gọi điện thoại cho T2 bảo T2 đi tạt mắm tôm vào nhà của anh Phan Mạnh T1, sinh năm 1993, địa chỉ nhà: B9, Khu Dân cư T, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, mục đích là để tạo áp lực, đe dọa anh T1 trả số tiền 7.000.000.000₫ (Bảy tỷ đồng)

2

thua bạc trước đó cho Trần Viết H. Nghe vậy, biết T2 không có xe nên D chủ động nói để D chở T2 đi tạt mắm tôm vào nhà anh T1. Trước lúc đi, D hỏi mượn Nguyễn Văn B 01 con dao bầu dài khoảng 30cm để sử dụng nếu xảy ra đánh nhau thì B đồng ý và đưa dao cho D. Khoảng 03 giờ ngày 28/01/2021, D mượn xe mô tô hiệu Vision, biển số 60F3-088.42 của chị Nguyễn Thị Như Ý đi đến Ngã tư Phú Thọ, phường T, thành phố B gặp và chở T2 đi đến nhà anh T1. Sau khi xác định được vị trí nhà của anh T1 thì D để T2 điều khiển xe, còn D ngồi sau cầm theo 01 can nhựa đựng mắm tôm. Khi đến vựa trái cây của gia đình anh T1, D gặp bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1954 (mẹ ruột của anh T1) đang đứng bên cạnh xe ô tô chở trái cây nên T2 đi lại hỏi “Bà có phải mẹ của T1 không?”. Bà T3 trả lời “Phải, cô là mẹ T1” thì D cầm ca đựng mắm tôm tạt vào người bà T3 rồi D nhảy lên xe để T2 điều khiển bỏ chạy. Thấy vậy, anh Hoàng Duy T4, sinh năm 2001, đăng ký thường trú tại: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và anh Vũ Minh L1, sinh năm 1987 (là anh rể của anh T1) cùng người dân đuổi theo, kéo D xuống xe thì D lấy dao đem theo đâm một nhát trúng ngực phải anh T4 rồi ra xe cùng T2 bỏ chạy thoát.

Sau khi gây án, T2 điều khiển xe chở D về đến ngã tư Phú Thọ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và D gọi điện thoại nói cho H biết về việc đi tạt mắm tôm vào người nhà của T1 rồi dùng dao đâm anh T4. Khoảng 10 phút sau, H, P1 cùng 02 người thanh niên tên T5, S (chưa rõ họ, địa chỉ) đi trên một xe mô tô đến gặp D và T2. Sợ đứng ngoài đường có camera an ninh sẽ bị phát hiện bắt giữ nên H và P1 nói D và T2 về nhà của P1 tại địa chỉ: 88/6/16, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, D kể lại toàn bộ nội dung sự việc đi tạt mắm tôm vào người bà T3 và dùng dao đâm anh T4 gây thương tích ở ngực có nguy cơ tử vong cho P1 và H nghe. Nghe vậy H và P1 bàn cách cho D và T2 đi trốn khỏi bị Công an bắt. P1 nói ở nhà P1 không được do Công an hay kiểm tra, nên P1 gọi điện thoại cho một người (chưa rõ họ tên, địa chỉ) ở huyện V, tỉnh Đồng Nai để cho D và T2 trốn nhưng không ai nghe máy. Sau đó, P1 đưa cho H số tiền 2.000.000 đồng để H đưa cho D và T2 bỏ trốn.

Ngoài ra, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn làm rõ thêm: Vào ngày 02/01/2021, Nguyễn Văn B được một thanh niên tên M (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode (không rõ biển số) chở B mang theo vòng hoa và vàng mã đến đặt trước cửa nhà anh Phan Mạnh T1 mục đích là để tạo áp lực, đe dọa anh T1 trả tiền nợ cho Nguyễn Minh P1, sau đó B được M cho 500.000 đồng tiêu xài.

Quá trình điều tra, bị can Trần Viết H không thừa nhận việc ép buộc anh T1 viết giấy nhận nợ 07 tỷ đồng do thua bạc, nhưng qua các chứng cứ, tài liệu Cơ quan điều tra thu thập thấy đã có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của H như trên.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0128/TgT/2021 ngày 18/02/2021 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định thương tích của anh Hoàng Duy T4 như sau:

- Dấu hiệu chính:

  • + Vết thương thấu tim (thấu nhĩ phải và thấu thất phải) đã phẫu thuật khâu vết thương tim.

3

  • + Vết thương màng ngoài tim đã phẫu thuật.
  • + Vết thương thấu tĩnh mạch chủ dưới.
  • + Tổn thương thùy giữa và thùy dưới phổi phải đã phẫu thuật.
  • + Vết mổ ngực bên bên phải khoang liên sườn VI bên phải kích thước 19,5 x 0,2cm.
  • + Vết thương ngực phải cạnh xương ức kích thước 05 x 0,2cm.
  • + Vết mổ dẫn lưu ngực bên bên phải kích thước 02 x 0,4cm.

- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Hoàng Duy T4 là 84% (T6 mươi bốn phần trăm).

- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Tại Bản Kết luận giám định số 2212/KL-KTHS ngày 10/11/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định chữ ký và chữ viết mang tên Trần Viết H trên mẫu cần giám định (Giấy vay tiền) so với chữ ký và chữ viết mang tên Trần Viết H trên mẫu so sánh (01 Bản tự khai, 02 Bản cam kết mang tên Trần Viết H) do cùng một người ký và viết ra.

Tại bản Cáo trạng số 238/CT-VKS-P2 ngày 30/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố:

  • - Nguyễn Thanh D, Nguyễn Văn B về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15 Bộ luật Hình sự; tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
  • - Trần Viết H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 170 Bộ luật Hình sự; tội “Che giấu tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2024/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 170; Điều 15; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm s, b khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Giết người” và "Cưỡng đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D 15 (mười lăm) năm tù về tội "Giết người", 04 (bốn) năm tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 19 (mười chín) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2021.

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 170; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 55; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Giết người” và "Cưỡng đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 04 (bốn) năm tù về tội "Giết người", 02 (hai) năm tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù.

4

Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2022.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; khoản 1 Điều 389; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và "Che giấu tội phạm".

Xử phạt bị cáo Trần Viết H 04 (bốn) năm tù về tội " Cưỡng đoạt tài sản", 02 (hai) năm tù về tội " Che giấu tội phạm". Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh D phải bồi thường cho anh Hoàng Duy T4 số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

Buộc ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị P (cha mẹ của bị cáo B) phải bồi thường cho anh Hoàng Duy T4 số tiền 59.274.604 đồng (Năm mươi chín triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm lẻ bốn đồng).

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo D, ông T và bà P chậm thi hành số tiền phải bồi thường nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 15/7/2024, 23/7/2024 bị cáo Nguyễn Thanh D, Trần Viết H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 22/7/2024, người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với các bị cáo và tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự.

Ngày 18/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai kháng nghị một phần bản án sơ thẩm đề nghị xét xử các bị cáo theo Điểm a, Khoản 4, Điều 170 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt đối với tất cả các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trần Viết H rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, người bị hại Hoàng Duy T4 có đơn trình bày đã được bồi thường thiệt hại và rút toàn bộ kháng cáo.

5

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa rút một phần kháng nghị về nội dung đề nghị áp dụng điểm O, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H và trình bày:

Về tố tụng: Bị cáo, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với việc rút kháng cáo của người bị hại, của bị cáo H là tự nguyện, hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết kháng cáo của người bị hại, bị cáo H.

Các tình tiết chứng cứ thể hiện ý thức chủ quan của các bị cáo là uy hiếp người bị hại nhằm chiếm đoạt số tiền 7 tỷ đồng, việc chưa chiếm đoạt được là ngoài mong muốn của các bị cáo. Bản án sơ thẩm xác định anh T1 ( người ký vay tiền) đã uống thuốc kích thích, không đủ năng lực hành vi dân sự, giấy vay tiền 7 tỷ đồng là vô hiệu do không có người vay, từ đó áp dụng Khoản 1, Điều 170 BLHS đối với các bị cáo là không phù hợp. Đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt và áp dụng Khoản 4 Điều 170 BLHS đối với tất cả các bị cáo. Đề nghị xử phạt các bị cáo tội “Cưỡng đoạt tài sản”, cụ thể:

  • - Xử phạt bị cáo Trần Viết H 6-8 năm tù;
  • - Nguyễn Thanh D 5-6 năm tù;
  • - Nguyễn Văn B 3-4 năm tù.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ đối với tội “ Giết người” của bị cáo D, mặc dù tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ là bồi thường thiệt hại, người bị hại rút kháng cáo và xin giảm nhẹ cho bị cáo, tuy nhiên xét mức hình phạt của cấp sơ thẩm là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D.

Bị cáo Nguyễn Thanh D cùng luật sư bào chữa thống nhất trình bày:

Về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, bản án sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội danh và có căn cứ, đề nghị giữ nguyên.

Đối với tội “Giết người”, bị cáo D phạm tội trong trường hợp bộc phát, hoảng loạn do bị truy đuổi, cấp sơ thẩm áp dụng thiếu tình tiết phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 57 BLHS; tại cấp phúc thẩm, bị cáo D có thêm tình tiết bồi thường thiệt hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ... do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo D.

Các bị cáo Trần Viết H, Nguyễn Văn B cùng luật sư trình bày:

Bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội danh.

Không đủ căn cứ xác định các bị cáo có ý thức chiếm đoạt số tiền 7 tỷ từ bị cáo H, đề nghị y án sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Rất ăn năn hối cải, đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

6

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo, người bị hại, kháng nghị của Viện kiểm sát làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét việc rút một phần kháng nghị của Viện kiểm sát, rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trấn Viết H2, rút kháng cáo về trách nhiệm dân sự về tăng hình phạt đối với các bị cáo của người bị hại Hoàng Duy T4 là tự nguyện, Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với các nội dung kháng cáo, kháng nghị nói trên.

[2]. Xét nội dung kháng cáo, kháng nghị:

Căn cứ lời khai của các bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thanh D, Nguyễn Văn B tội “Giết người” và “Cưỡng đoạt tài sản”, bị cáo Trần Viết H tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Che dấu tội phạm” là đúng người và đúng tội danh.

Đối với tội danh “Cưỡng đoạt tài sản” cấp sơ thẩm đã áp dụng Khoản 1 Điều 170 BLHS để xét xử các bị cáo, Viện kiểm sát kháng nghị cho rằng cần áp dụng Khoản 4 Điều 170 BLHS để xét xử các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Xét các chứng cứ theo nội dung kháng nghị:

Sau khi xảy ra sự việc, người bị hại Phan Mạnh T1 xuất trình giấy vay tiền 7 tỷ có chữ ký bảo lãnh của bị cáo H và khai bị ép ký trong trạng thái không minh mẫn, bị hại khai sau đó bị các bị cáo ép trả 7 tỷ.

Bị hại T1 khai không nợ tiền 20 triệu như bị cáo H trình bày, chỉ nhớ trong lúc đánh bài có mượn vài chục triệu, không nhớ số tiền cụ thể.

Bị cáo H không thừa nhận việc gây áp lực để đòi 7 tỷ, khai chỉ nhờ các bị cáo khác đòi số tiền vay làm ăn là 20 triệu và số tiền này không liên quan đến giấy vay tiền, giấy vay tiền này có do bị cáo và bị hại cùng tham gia hội đánh bài, bị hại T1 vay tiền một người khác và nhờ bị cáo H ký làm chứng.

Các bị cáo khác đi đặt vòng hoa và tạt mắm tôm khai chỉ đòi nợ cho bị cáo H, khi đi không nghe nói đi đòi nợ là bao nhiêu tiền.

Đối với bản ghi âm cuộc nói chuyện về việc dàn xếp số nợ tại quán cà phê do bị hại xuất trình không có tiếng nói của H về việc đòi nợ, không rõ nội dung đòi bao nhiêu tiền (BL 488).

Với các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy chưa có căn cứ vững chắc để xác định ý thức chủ quan của bị cáo H cũng các bị cáo khác cưỡng đoạt số tiền 7 tỷ, bản án sơ thẩm xử các bị cáo theo Khoản 1 Điều 170 BLHS là có căn cứ, do đó không chấp nhận kháng nghị về việc cần xét xử các bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 170 BLHS có nội dung ... “chiếm đoạt từ 500.000.000đ trở lên.”

Như vậy cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Viết H, Nguyễn Thanh D, Nguyễn Văn B về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự là phù hợp luật định.

7

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Trần Viết H là chủ mưu, cầm đầu trong việc thực hiện tội phạm “Cưỡng đoạt tài sản”, hành vi này là nghiêm trọng, gây mất an ninh, trật tự chung và là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến tội “Giết người” của bị cáo D, do đó hành vi này của bị cào H cần được xử lý nghiêm, xét mức hình phạt 4 năm tù của cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo H là có phần nhẹ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát, tăng mức hình phạt của bị cáo Trần Viết H đối với tội danh “Cưỡng đoạt tài sản” để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần giáo dục phòng ngừa chung.

Về hành vi “ Cưỡng đoạt tài sản” của bị cáo D và bị cáo B, xét thấy mức hình phạt của cấp sơ thẩm là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị về tăng hình phạt đối với các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo D và bị cáo B.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D:

Tại cấp phúc thẩm, mặc dù bị cáo D có tình tiết giảm nhẹ mới là bồi thường thêm cho phía bị hại, bị hại rút kháng cáo và xin giảm nhẹ cho bị cáo D, cấp sơ thẩm có nhận định “ phạm tội chưa đạt” tuy nhiên tại phần quyết định không áp dụng Điều 57 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D là có sơ sót, xét thấy, mặc dù có thêm tình tiết mới tuy nhiên mức hình phạt của cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo D là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo D, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Thanh D.

[3]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.

[4]. Do không được chấp nhận kháng cáo, bị cáo Nguyễn Thanh D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

8

Căn cứ vào Điều 348, Điểm b, Khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người bị hại Hoàng Duy T4 về việc tăng hình phạt và trách nhiệm dân sự của bị cáo Nguyễn Thanh D, Trần Viết H và Nguyễn Văn B.

Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Viết H về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị yêu cầu áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại Điểm O, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự về nội dung “ Xúi giục trẻ vị thành niên phạm tội” đối với bị cáo Trần Viết H.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D, chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số: 251/KN/VKS ngày 18/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, sửa một phần bản án số: 121/2024/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 170; Điều 15; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 57 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Giết người” và “Cưỡng đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D 15 (mười lăm) năm tù về tội "Giết người", 04 (bốn) năm tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 19 (mười chín) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2021.

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 170; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 55, Điều 57; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Giết người” và “Cưỡng đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 04 (bốn) năm tù về tội "Giết người", 02 (hai) năm tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2022.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; khoản 1 Điều 389; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Che giấu tội phạm”.

Xử phạt bị cáo Trần Viết H 04 năm, chín tháng tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản", 02 (hai) năm tù về tội " Che giấu tội phạm". Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm 09 tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh D phải bồi thường cho anh Hoàng Duy T4 số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

Buộc ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị P (cha mẹ của bị cáo B) phải bồi thường cho anh Hoàng Duy T4 số tiền 59.274.604 đồng (Năm mươi chín triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm lẻ bốn đồng).

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo D, ông T và bà P chậm thi hành số tiền phải bồi thường nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng

9

chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số sơ ri: C6KR5G1SGRY5 của bị cáo Nguyễn Thanh D để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh D 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thanh D.

(Biên bản giao nhận vật chứng NK23/048 ngày 21/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thanh D phải chịu 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị P (cha mẹ của bị cáo B) phải chịu 2.963.700 đồng (Hai triệu chín trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thanh D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Đạt Dương Tuấn Vinh
Lê Văn An

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - TTG Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: HS; VP; (HKN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Tuấn Vinh

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2025/HS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 227/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger