|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 227/2025/DS-PT Ngày 19 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ Thanh Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2025/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 143/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn K, sinh năm 1936 (đã chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
Bà Trần Thị M, sinh năm 1945.
Người đại hợp pháp của bà M: Bà Lê Thị Bảo C, sinh năm 1974; Địa chỉ cư trú: Số I, đường Q, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản uỷ quyền ngày 12 tháng 6 năm 2024, có mặt).
Ông Phan Hoàng S, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà Phan Hồng T, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Bà Phan Hồng N, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ông Phan Thành P, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà Phan Hồng Á, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Bà Phan Hồng Đ (Đ1), sinh năm 1979 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Phan Thị T1, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường C, khóm D, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đỗ Văn T2 là luật sư của Công ty L1 - Chi nhánh C2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Ngọc T3, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số G, đường H, khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Do có kháng cáo của: Bà Phan Thị T1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn, ông Phan Văn K trình bày:
Năm 2021, con ông K là bà Phan Thị T1 kêu ông K cho mượn 62.000.000 đồng để trả Ngân hàng. Ông K đồng ý và nhận tiền, sau đó bà T1 chở ông K đi trả tiền ngân hàng lấy sổ đỏ về. Khoảng 01 tháng sau, bà T1 kêu ông K đi ký giấy khi nào có tiền thì trả lại sổ đỏ. Bà T1 chở ông K đi ký giấy thì ông K ký nhưng không biết giấy tờ gì. Nay ông K có tiền trả lại cho bà Phan Thị T1 thì phát hiện Tươi đã đứng tên quyền sử dụng đất. Nhiều lần ông K yêu cầu bà Phan Thị T1 chuyển trả sổ đỏ cho ông K. Bà T1 trả lại sổ đỏ nhưng không chịu đi làm thủ tục chuyển tên cho ông K nên xảy ra tranh chấp.
Nay, ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau giải quyết tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K với bà Phan Thị T1 vào ngày 17 tháng 05 năm 2021 là vô hiệu. Ông K chưa có nhận tiền và chưa giao đất nên không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn trình bày:
Bà Trần Thị M trình bày: Bà yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K với bà Phan Thị T1 ngày 17.5.2021 vô hiệu. Trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà thì bà đồng ý trả nợ cho bà T1 số tiền 200 triệu đồng; đồng ý trả 03 chỉ vàng 24k. Số tiền 100 triệu đồng thiếu ông P, bà trả sau. Bà đồng ý trả cho cháu ngoại là Nguyễn Yến L (con của bà Phan Hồng N) 7,5 chỉ vàng 24k. Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bà M trình bày: Yêu cầu tách khoản nợ giải quyết riêng và yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Phan Văn K với Phan Thị T1 vào ngày 17 tháng 05 năm 2021.
Ông Phan Hoàng S trình bày: Ông yêu cầu tuyên bố huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K với bà Phan Thị T1 ngày 17.5.2021.
Ông Phan Thành P trình bày:
Vào tháng 07/2019, cha mẹ ông là ông Phan Văn K và bà Trần Thị M kêu ông về ở chung để quản lý ruộng, nhà cửa. Trước khi ông về nuôi cha mẹ; cha mẹ ông được Nhà Nước hỗ trợ xây nhà cho người có công với số tiền 40.000.000 đồng. Cha mẹ ông có mượn của bà Phan Hồng T4 100.000.000 đồng. Khi ông P về ở, bà T4 yêu cầu ông trả số tiền 100.000.000 đồng; ông đã cho bà T4 xong số tiền trên. Ông có cất thêm và sửa chữa nhà với số tiền 377.538.000 đồng.
Sau một thời gian, cha mẹ nghe lời các em làm xáo trộn trong nhà; ông sống với cha, mẹ không được nên không sống chung. Cha mẹ ông đồng ý trả lại cho ông số tiền 240.000.000 đồng và số tiền bồi đắp khu nền 32.000.000 đồng. Cha mẹ ông đã trả lại cho ông 240.000.000 đồng, còn thiếu khoản tiền làm nhà 19.000.000 đồng, 5 chỉ vàng 24K và số tiền 100.000.000 đồng đã trả cho bà T4 thay cha, mẹ. Ông không đồng ý việc nguyên đơn khởi kiện bà T4. Mẹ ông bà Trần Thị M thừa nhận có thiếu ông 100.000.000 đồng và hứa trả nên ông không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Bà Phan Hồng Đ trình bày: Bà không đồng ý việc nguyên đơn khởi kiện bà T4 huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Bà Phan Hồng T: Bà không đồng ý việc nguyên đơn khởi kiện bà T4, bà yêu cầu tiếp tục để cho bà T4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Bị đơn, bà Phan Thị T1 trình bày:
Việc cha bà là ông K cho đất bà là hợp đồng tặng cho để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho cha mẹ và nuôi dưỡng cha mẹ. Hợp đồng tặng cho đất là hợp pháp, có trình với Ủy ban nhân dân xã K, có ông K1, ông C1, ông R làm biên bản.
Cha mẹ của bà có thiếu bà những khoản nợ như sau: Vay của bà T3 200 triệu đồng, lãi suất 3%/ tháng có sự bảo lãnh của bà; mượn bà T1 30 triệu đồng và 07 chỉ vàng 24k. Lúc trước cha mẹ bà cất nhà, bà cho cha mẹ mượn 100 triệu đồng; sau này, ông P về ở thì ông P có trả cho bà 100 triệu đồng. Bà yêu cầu cha mẹ bà phải trả cho ông P 100 triệu đồng.
Ngoài ra, mẹ bà còn thiếu cháu ngoại là Nguyễn Yến L (con của bà Phan Hồng N) là 7,5 chỉ vàng 24k và nợ bà T 60 triệu đồng.
Tại phiên toà, bà Phan Thị T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu đối với những khoản nợ của bà M, ông K.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc T3 trình bày:
Về khoản vay nợ ngày 21/12/2022 ông Phan Văn K, bà Trần Thị M có vay của bà số tiền 200.000.000 đồng và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà, có sự bảo lãnh của bà Phan Thị T1. Trong vụ án này, bà không có yêu cầu kiện tụng gì và bà yêu cầu Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2025/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền nghĩa vụ của nguyên đơn: Ông Phan Hoàng S, bà Trần Thị M. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K với bà Phan Thị T1 ngày 17/05/2021 đối với thửa đất số 0282, 0284, tờ bản đồ số 04, diện tích 21.450m² đất toạ lạc tại ấp Ông B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17/3/2025, bà Phan Thị T1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 17/5/2021 giữa ông Phan Văn K với bà Phan Thị T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phan Thị T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, Luật sư Đỗ Văn T2 tranh luận: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã có hiệu lực từ ngày 28 tháng 5 năm 2021 vì đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền và được điều chỉnh sang tên cho bà T1. Trong hợp đồng không quy định việc bàn giao đất. Việc bà T1 để lại phần đất cho bà M, ông K sinh sống là phù hợp truyền thống đạo đức. Bà T1 không vi phạm nghĩa vụ đối với ông K, bà M. Tại phiên toà sơ thẩm bà T3 không có tham gia nhưng quyết định sửa chữa bổ sung có bà T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giữ nguyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K, bà Trần Thị M với bà Phan Thị T1.
Bị đơn, bà Phan Thị T1 tranh luận: Không tranh luận.
Người đại diện theo uỷ quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn bà Trần Thị M là bà Lê Thị Bảo C tranh luận: Bà M, ông K chỉ muốn uỷ quyền cho bà T1 để vay tiền trả nợ, không phải tặng cho quyền sử dụng đất. Vì ông K, bà M vẫn còn nhiều người con khác.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, ông Phan Hoàng S tranh luận: Không tranh luận.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, ông Phan Thành P tranh luận: Không tranh luận.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, bà Phan Hồng Đ tranh luận: Không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Phan Thị T1, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K, bà Trần Thị M với bà Phan Thị T1 đã được chứng thực tại Văn phòng C3 ngày 17 tháng 5 năm 2021. Bà Phan Thị T1 đã đăng ký và được điều chỉnh trang 4 chuyển sang tên bà Phan Thị T1 ngày 28 tháng 5 năm 2021. Như vậy, hợp đồng trên có hiệu lực về hình thức. Tuy nhiên, sau khi ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì ông K, bà M vẫn sử dụng đất, không có việc chuyển giao quyền sử dụng đất trên thực tế; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do ông K, bà M giữ. Do đó, cần phải xem xét ý chí của ông K, bà M khi ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà T1.
[2] Ông K, bà M có phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 21.450m². Trên đất có căn nhà ông K, bà M ở. Đây là tài sản còn lại duy nhất của ông K, bà M là nguồn thu nhập chính để nuôi sống ông K, bà M. Do đó, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông K, bà M với bà T1 là tặng cho có điều kiện là phụng dưỡng ông K, bà M. Điều này thể hiện qua sự việc: Tháng 7 năm 2019, ông K, bà M gọi ông Phan Thành P về sống chung, quản lý nhà cửa, canh tác ruộng và trả cho bà T1 số tiền 100.000.000 đồng dùm ông K, bà M. Khi, ông P không ở và nuôi ông K, bà M thì ông K, bà M đồng ý thanh toán tiền ông P trả thay và góp tiền xây nhà. Mặt khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được điều chỉnh sang tên bà T1 vào ngày 28 tháng 5 năm 2021 nhưng ông K, bà M vẫn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ngày 21 tháng 12 năm 2022, ông K, bà M có vay của bà Trần Ngọc T3 số tiền 200.000.000 đồng và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T3, có sự bảo lãnh của bà T1 (Bút lục 97A2). Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất vẫn do ông K, bà M giữ và sử dụng. Điều này thể hiện, ông K, bà M vẫn còn quyền đối với phần đất trên.
[3] Tại phiên toà sơ thẩm, bà T1 đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất trả nợ; phần đất còn lại chia cho các anh em. Tại Biên bản hoà giải ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời (Bút lục C), bà T1 thừa nhận: “Việc cha bà T1 là ông K cho bà T1 là hợp đồng tặng cho để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho cha mẹ và nuôi dưỡng cha mẹ...”. Điều này thể hiện, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là nhằm đảm bảo các khoản nợ và nuôi dưỡng ông K, bà M. Như vậy, mặc dù hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không quy định điều kiện nuôi dưỡng và thanh toán các khoản nợ nhưng các chứng cứ có tại hồ sơ và lời thừa nhận của bà T1 thể hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là có điều kiện nuôi dưỡng, trả các khoản nợ. Bà T1 vẫn chưa trả nợ thay ông K, bà M và vẫn không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng bà M. Án sơ thẩm hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K, bà Trần Thị M với bà Phan Thị T1 là có căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của bị đơn cho rằng bà T3 không có tham gia phiên tòa nhưng trong bản án lại đưa bà T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản ghi lời khai ngày 27 tháng 12 năm 2024, bà Trần Ngọc T3 trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ 200.000.000 đồng trong vụ án này và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt. Do đó, bà T3 có tham gia tố tụng trong vụ án hay không là không ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà T3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ như nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 81/2025/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị T1 phải chịu 300.000 đồng. Bà T1 có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị T1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2025/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người kế thừa quyền nghĩa vụ của nguyên đơn, ông Phan Hoàng S, bà Trần Thị M. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K, bà Trần Thị M với bà Phan Thị T1 được Văn phòng C3 công chứng ngày 17/05/2021 (Số công chứng 005744, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD) đối với thửa đất số 0282, 0284, tờ bản đồ số 04, diện tích 21.450m², toạ lạc tại ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau do ông Phan Văn K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10 tháng 2 năm 1995 và được điều chỉnh trang 4 sang tên bà Phan Thị T1 ngày 28 tháng 5 năm 2021.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị T1 phải chịu là 300.000 đồng (chưa nộp).
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị T1 phải chịu 300.000 đồng. Ngày 17 tháng 3 năm 2025, bà T1 có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0005345 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 227/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 227/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau giải quyết tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn K với bà Phan Thị T1 vào ngày 17 tháng 05 năm 2021 là vô hiệu
