TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 227/2024/HSST Ngày: 22/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy.
Các hội thẩm nhân dân : 1.Bà Lại Hà Phương
2.Bà Nguyễn Thị Hương Sen
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là thư ký tòa án nhân dân quận Hà Đông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2024/HSST ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/QĐHPT ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Hà Thái S ( tên gọi khác: Không ),
sinh ngày 31 tháng 01 năm 2000; Tại: Tuyên Quang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu E, xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn N và bà Vũ Thị H; Có vợ là Nguyễn Thị Tuyết N1 ( chưa đăng ký ) và có 01 con sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 28/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo S: Ông Bùi Tuấn A, ông Bùi Đình Ứ– Luật sư Văn phòng luật sư Bùi Đình Ứ. Có mặt.
2/ Nguyễn Thị Tuyết N1 ( tên gọi khác: Không ),
sinh ngày 20 tháng 11 năm 2001; Tại: Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Số nhà E, tổ dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đắc Q ( đã chết ) và bà Nguyễn Thị Bích N2; Chồng: Hà Thái S ( chưa đăng ký ) và có 01 con sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú . Có mặt tại phiên toà.
3/ Lê Đức D ( tên gọi khác: Không ),
sinh ngày 04 tháng 10 năm 2000; Tại: Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn K và bà Quảng Thị M; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt theo biên bản người phạm tội đầu thú từ ngày 27/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo D: Ông Dương Minh Đ – Luật sư chi nhánh văn phòng L1 Vĩnh Phúc tại Hà Nội. Vắng mặt.
4/ Cao Xuân T ( tên gọi khác: Không ),
sinh ngày 23 tháng 11 năm 2004; Tại: Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Số nhà D, tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở: Số E, ngõ A, ngách B, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Sinh viên trường đại học C2; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao T1 và bà Nông Thị D1; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt theo biên bản người phạm tội đầu thú từ ngày 27/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án :
Bà Nông Thị D1, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số E, ngõ A, ngách B, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Thái S và Nguyễn Thị Tuyết N1 chung sống cùng nhau tại số N khu tái định cư T, T, huyện T, thành phố Hà Nội. Khoảng đầu tháng 7 năm 2023, S thấy có nhiều người có nhu cầu làm giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận sức khỏe trên mạng xã hội nên S nảy sinh ý định làm giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận sức khỏe giả để bán kiếm lời. Thông qua mạng xã hội facebook, S đặt mua của người không quen biết 02 con dấu giả hình tròn giống con dấu của Công ty cổ phần B, các dấu chức danh và một số con dấu khác, mua máy in phun màu, máy tính xách tay để in ảnh chân dung hết số tiền khoảng 10.000.000 đồng. S lên mạng tìm hiểu các bước để in, đóng các con dấu vào các Giấy khám sức khỏe loại A3, Giấy chứng nhận sức khỏe loại A4. S sử dụng tài khoản zalo “Thái Hoàng” đăng ký bằng số điện thoại 0353.260.xxx để liên lạc. Quá trình làm giả giấy khám sức khỏe, S có hướng dẫn N1 viết thông tin vào giấy khám sức khỏe giả mục “Khám thể lực, khám lâm sàng, ký tên vào cột chữ ký bác sĩ” và ký tên dưới mục “người kết luận” sau đó đưa cho S để đóng dấu.
Quá trình tìm người mua giấy khám sức khoẻ, qua mạng xã hội Z, S thấy tài khoản zalo mang tên “Bác sỹ Vân” và “Giấy khám sức khỏe” đăng tin trên hội nhóm chuyên nhận làm giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận sức khỏe nên sử dụng
tài khoản zalo “Thái H1” nhắn tin đến hai tài khoản zalo trên. Sau đó, hai bên thỏa thuận tài khoản zalo “Bác sỹ Vân”; “Giấy khám sức khỏe” cung cấp thông tin khách hàng, số tiền nhận của khách, S làm các giấy khám sức khỏe giả. Giấy khám sức khỏe loại A3 có dán ảnh chân dung đóng dấu giáp lai, S nhận 50.000 đồng; giấy khám sức khỏe loại A3 không có ảnh chân dung, S nhận 30.000 đồng; giấy chứng nhận sức khỏe loại A4, S nhận 20.000 đồng. S chịu trách nhiệm đi giao cho khách và thu tiền. Sau khi thu tiền S chuyển khoản đến tài khoản số 0966141495 mang tên NGUYEN KHANH HA tại Ngân hàng M3 là tài khoản ngân hàng “Bác sỹ Vân” cung cấp cho S. Sau đó, S nhận lại từ tài khoản này số tiền bán giấy tờ giả như đã thỏa thuận.
Khoảng tháng 8/2023, S biết Lê Đức D là lái xe công nghệ qua việc đặt xe qua mạng. S thuê D vận chuyển các giấy khám sức khỏe giả cho khách và trả công 30.000 đồng trên một đơn hàng. Mỗi đơn hàng giấy khám sức khỏe giả, S ghi sẵn lên các phong bì rồi đưa cho D đi giao cho khách. D nhận tiền của khách rồi chuyển khoản đến tài khoản số 0335258420 mang tên S tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q2 (M3) cho S. Sau khi nhận tiền, S chuyển khoản tiền công đi giao hàng đến tài khoản số 0800128012000 mang tên D tại Ngân hàng M3 cho D. D liên hệ với S qua tài khoản zalo “B” đăng ký bằng số điện thoại 0326.644.xxx. Khoảng cuối tháng 11/2023, S bảo D giao giấy khám sức khỏe giả cho khách, do D bị hỏng xe nên D bảo Cao Xuân T đi giao giấy khám sức khỏe giả cho khách, T đồng ý. D thông báo cho T đến phòng trọ của S để nhận các phong bì bên trong là giấy khám sức khỏe giả đi giao cho khách. Sau khi nhận tiền của khách, T chuyển khoản từ tài khoản số 0382483281 mang tên T tại Ngân hàng M3 đến tài khoản số 0800128012000 mang tên D tại Ngân hàng M3 cho D. S trả tiền công cho D và D trả tiền công cho T.
Trong khoảng tháng 8/2023 đến ngày 27/12/2023, S nhận thông tin khách hàng làm giấy khám sức khoẻ giả từ tài khoản zalo “Bác sỹ Vân”. Sau đó, S cùng N1 làm các giấy khám sức khoẻ giả và hưởng lợi số tiền 15.564.000 đồng. D biết S làm giấy khám sức khoẻ giả và đồng ý đi giao những giấy khám sức khoẻ giả cho khách hàng ở những địa chỉ khác nhau quanh khu vực nội thành H là được S trả công số tiền 5.000.000 đồng. Cuối tháng 11/2023, T tham gia đi giao giấy khám sức khoẻ giả cho S và được D trả công số tiền 365.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định: sáng ngày 27/12/2023, sau khi nhận thông tin khách hàng từ tài khoản zalo “Bác sỹ Vân”. Sau đó, S gọi D đi giao 06 đơn hàng cho khách, D đang đi giao hàng nên gọi cho T đi giao 06 đơn hàng trong đó có 07 giấy khám sức khoẻ khổ A3 cho khách. Hồi 14 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave S sơn màu đen, biển kiểm soát 89K7-1644 mang theo 06 phong bì bên trong có 07 tờ giấy khám sức khoẻ khổ A3 S làm giả để đi giao cho khách thì bị tổ công tác Công an phường Y, quận H kiểm tra hành chính, thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở làm rõ.
Cùng ngày, Lê Đức D đến cơ quan công an xin đầu thú.
Ngày 28/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Thái S và khám xét khẩn cấp nơi ở của S tại N khu tái định cư T, T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ:
- Thu giữ của Cao Xuân T khi kiểm tra hành chính ngày 28/12/2023 (Bút lục 178, 187):
- + 06 (sáu) phong bì bên trong có 07 (bảy) giấy khám sức khỏe A3 có đóng hình dấu tròn đỏ “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI”;
- + 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu xanh ngọc, bên trong lắp sim số 0382483281;
- + 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, sơn màu đen, biển kiểm soát: 89K7-1644; số máy: C43E-0530986, số khung: 43139Y018448.
- Thu giữ qua khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Hà Thái S (Bút lục 65-66; ):
- + 02 (Hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen trắng, đều đóng ra hình dấu tròn, mực đỏ, ở giữa hình dấu tròn có dòng chữ "CÔNG TY CÓ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI", viền dấu tròn phía trên có dòng chữ “M.SD.N:0107276138- C.T.C.P”, viền dấu tròn phía dưới có dòng chữ: “Q.ĐỐNG ĐA - T.P HÀ NỘI”;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “ĐÃ THU TIỀN”, bằng mực đỏ;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đều đóng ra dòng chữ “ĐÃ THU TIỀN” phía trên và dòng chữ “Nguyễn Thị N2” phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đóng ra dòng chữ “PHÓ GIÁM ĐỐC PHÒNG GIAO DỊCH” phía trên và dòng chữ “Nguyễn Hữu K1”, phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đóng ra dòng chữ “PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHÁM SỨC KHỎE” phía trên và dòng chữ “BSCKI. Nguyễn Công S1”, phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “ĐỦ SỨC KHỎE HỌC TẬP-CÔNG TÁC”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “Tim Phổi Bình Thường”;
- + 03 (ba) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKII. Ngô Chí T2”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BS.CKI. Trần Kim M1”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Trần Thị N3”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Nguyễn Thị C”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Nguyễn Công S1”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “ÂM TÍNH”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “ĐỦ SỨC KHỎE LÁI XE HẠNH:” bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh, đóng ra chữ “Ths. Lý Lan P” bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “BSCKI. Hà Duy C1”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “BS. Trần Kiên”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) máy in phun màu nhãn hiệu Canon K10470, vỏ máy màu đen, đã qua sử dụng;
- + 01 (máy) tính xách tay nhãn hiệu Asus FX503 VD màu đen, đã qua sử dụng;
- + 12 (mười hai) giấy khám sức khỏe khổ giấy A3 của Công ty Cổ phần B, không có ảnh, không có thông tin người khám, phía dưới mục “NGƯỜI KẾT LUẬN” có chữ ký và hình dấu tròn mực màu đỏ;
- + 01 (một) phong bì bằng giấy màu trắng, trên phong bì có dòng chữ: “157 Cầu D, bên trong phong bì có 01 (một) giấy khám sức khỏe khổ A3 của Công ty Cổ phần B, có dán ảnh, không có thông tin người khám, phía dưới mục “NGƯỜI KẾT LUẬN” có chữ ký và hình dấu tròn mực màu đỏ, có dấu đỏ giáp lai ảnh chân dung;
- + 01 (một) phong bì bằng giấy màu trắng, trên phong bì có dòng chữ “SN36 ngõ B Đ, T”, bên trong phong bì có 01 (một)giấy khám sức khỏe khổ giấy A3 của Công ty Cổ phần B, có dán ảnh, không có thông tin người khám, phía dưới mục “NGƯỜI KẾT LUẬN” có chữ ký và hình dấu tròn mực màu đỏ, có dấu đỏ giáp lai ảnh chân dung;
- + 01 (một) phong bì bằng giấy màu trắng, trên phong bì có dòng chữ “19nV9 T6, T, Thanh T3” bên trong phong bì có 01 (một) giấy khám sức khỏe khổ giấy A3 của Công ty Cổ phần B, có dán ảnh, không có thông tin người khám, phía dưới mục “NGƯỜI KẾT LUẬN” có chữ ký và hình dấu tròn mực đỏ, có dấu đỏ giáp lai ảnh chân dung;
- + 30 (ba mươi) giấy khám sức khỏe khổ A3 của Công ty Cổ phần B, chưa có thông tin gì trên giấy, không có ảnh chân dung, không đóng dấu (mẫu giấy khám sức khỏe chưa sử dụng);
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, dung lượng 32GB, số Seri FCDZ2331HG04 lắp sim số 0987906371.
- Thu giữ của Lê Đức D (Bút lục 211): 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu xanh rêu lắp sim số 0326644145.
Ngày 28/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 921 giám định chữ ký, chữ viết đối với 22 tờ giấy khám sức khỏe khổ A3, có đóng hình dấu tròn đỏ “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI” thu giữ của Hà Thái S, Cao Xuân T nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 1233/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K4 - Công an thành phố H kết luận (Bút lục 70):
- “Hình dấu tròn “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI” trên các mẫu giám định ký hiệu từ A1 đến A22 với hình dấu tròn "CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI” trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một con dấu đóng ra”.
- Con dấu tròn có nội dung “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI * Q ĐỐNG ĐA - T.P HÀ NỘI” (Ký hiệu M2) không đóng ra hình dấu tròn “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI * Q ĐỒNG ĐA - T.P HÀ NỘI” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A22).
- Con dấu tròn có nội dung “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI * Q ĐỐNG ĐA - T.P HÀ NỘI” (Ký hiệu M3) đóng ra hình dấu tròn “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI * Q ĐỐNG ĐA - T.P HÀ NỘI” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A22).
Ngày 09/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H có Quyết định trưng cầu giám định số 274 giám định chữ viết, chữ ký của Nguyễn Thị Tuyết N1. Tại Kết luận giám định số 1144/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K4 Công an thành phố H kết luận (Bút lục 68):
- “1. Chữ viết “Ng Thị T4” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A22 với chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Tuyết N1 trên mẫu so sánh ký hiệu M1 và chữ viết “Ng Thị T4” thực nghiệm do Nguyễn Thị Tuyết N1 viết trên mẫu so sánh ký hiệu M2 là chữ do cùng một người viết ra.
- 2. Chữ ký đứng tên Trần Thị N3, Ngô Chí T2 tại cột “Họ tên, chữ ký của Bác sỹ” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A22 với chữ ký đứng tên Trần Thị N3, Ngô CHí Thanh tương ứng trên các mẫu so sánh ký hiệu M3, M5 là chữ do cùng một người ký ra.
- * Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Trần K2, Nguyễn Công S1 tại cột “Họ tên, chữ ký của Bác sỹ” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A22 với chữ ký đứng tên Trần K2, Nguyễn Công S1 tương ứng trên các mẫu so sánh ký hiệu M4, M6 có phải là chữ do cùng một người ký ra không”.
Đối với đối tượng đã bán cho S1 02 con dấu tròn đỏ của Công ty cổ phần B và các mẫu dấu khác: S1 khai đặt mua trên mạng xã hội của một người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của S1 không có tài liệu nào khác chứng minh làm rõ nên không có cơ sở điều tra xử lý.
Đối với tài khoản zalo mang tên “Bác sỹ Vân” và “Giấy khám sức khoẻ”. S1 khai đã làm giấy khám sức khoẻ cho tài khoản zalo “Bác sỹ Vân”, tài khoản zalo “Giấy khám sức khoẻ” mới nhận thông tin khách hàng chưa làm giấy khám sức khoẻ giả. Quá trình điều tra xác định tài khoản số 0966141495 tại Ngân hàng M3 mang tên Nguyễn Hà K3- sinh năm 1995, trú tại xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; số điện thoại di động 0332.340.xxx đăng ký tên Đoàn Văn Q1- sinh năm 1985, trú tại Q, xã B, tỉnh Quảng Bình và tài khoản facebook “Bảo L” có liên quan đến tài khoản zalo “Bác sỹ Vân”. Qua xác minh, chị K3, anh Q1 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình chính quyền địa phương không biết. Do đó, chưa xác định được đối tượng sử dụng các tài khoản trên. Ngày 23/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Quyết định tách vụ án hình sự số 3381 để tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với những người mua giấy khám sức khoẻ của Hà Thái S. Những người này không biết, không thỏa thuận, bàn bạc với S để làm giả giấy khám sức khỏe, chưa nhận được giấy khám sức khỏe nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 30 (ba mươi) giấy khám sức khỏe khổ A3 của Công ty Cổ phần B, chưa có thông tin gì trên giấy, không có ảnh chân dung, không đóng dấu, mẫu giấy khám sức khỏe chưa sử dụng thu giữ qua khám xét tại phòng trọ của Hà Thái S ở N khu tái định cư T, T, huyện T, thành phố H không đủ cơ sở để giám định làm rõ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu đen, biển kiểm soát: 89K7-1644, số máy: C43E-0530986, số khung: 43139Y018448, T sử dụng để đi giao giấy khám sức khỏe giả. Quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị A1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Chị A1 khai không đăng ký chiếc xe máy trên. T khai chiếc xe máy trên là của bà Nông Thị D1- sinh năm 1977 (mẹ đẻ T). Bà D1 cho T mượn để sử dụng, bà D1 không biết việc T sử dụng là phương tiện để đi giao giấy khám sức khỏe giả. Bà D1 khai mua của một người nam giới không quen biết với giá 7.000.000 đồng có đăng ký xe và không lập giấy tờ mua bán; chiếc xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Cơ quan điều tra chuyển chiếc xe trên đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông (theo Quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát) chờ quyết định xử lý.
Trước Cơ quan điều tra, Hà Thái S, Nguyễn Thị Tuyết N1, Lê Đức D, Cao Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 166/CT-VKS-HĐ ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố:
H, Nguyễn Thị Tuyết N1, Lê Đức D, Cao Xuân T, về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Hà Thái S, Nguyễn Thị Tuyết N1, Lê Đức D và Cao Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 341; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Hà Thái S từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 341; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đức D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.
Xử phạt: Bị cáo Cao Xuân T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu xanh ngọc, bên trong lắp sim số 0382483281 thu giữ của bị cáo T.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, dung lượng 32GB, số Seri FCDZ2331HG04 lắp sim số 0987906371 thu giữ của bị cáo S.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu xanh rêu lắp sim số 0326644145 thu giữ của bị cáo D.
- + 01 (một) máy in phun màu nhãn hiệu Canon K10470, vỏ máy màu đen, đã qua sử dụng;
- + 01 (máy) tính xách tay nhãn hiệu Asus FX503 VD màu đen, đã qua sử dụng.
-Tịch thu tiêu huỷ:
- + 02 (Hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen trắng, đều đóng ra hình dấu tròn, mực đỏ, ở giữa hình dấu tròn có dòng chữ "CÔNG TY CÓ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI", viền dấu tròn phía trên có dòng chữ “M.SD.N:0107276138- C.T.C.P”, viền dấu tròn phía dưới có dòng chữ: “Q.ĐỐNG ĐA - T.P HÀ NỘI”;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “ĐÃ THU TIỀN”, bằng mực đỏ;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đều đóng ra dòng chữ “ĐÃ THU TIỀN” phía trên và dòng chữ “Nguyễn Thị N2” phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đóng ra dòng chữ “PHÓ GIÁM ĐỐC PHÒNG GIAO DỊCH” phía trên và dòng chữ “Nguyễn Hữu K1”, phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đóng ra dòng chữ “PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHÁM SỨC KHỎE” phía trên và dòng chữ “BSCKI. Nguyễn Công S1”, phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “ĐỦ SỨC KHỎE HỌC TẬP-CÔNG TÁC”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “Tim Phổi Bình Thường”;
- + 03 (ba) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKII. Ngô Chí T2”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BS.CKI. Nguyễn Kim M2”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Trần Thị N3”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Nguyễn Thị C”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Nguyễn Công S1”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “ÂM TÍNH”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “ĐỦ SỨC KHỎE LÁI XE HẠNG:” bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh, đóng ra chữ “Ths. Lý Lan P” bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “BSCKI. Hà Duy C1”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “BS. Trần Kiên”, bằng mực màu xanh;
Xét đây là các công cụ bị cáo S1 sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
-Đối với:
- + 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu xanh ngọc, bên trong lắp sim số 0382483281 thu giữ của bị cáo T.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, dung lượng 32GB, số Seri FCDZ2331HG04 lắp sim số 0987906371 thu giữ của bị cáo S1.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu xanh rêu lắp sim số 0326644145 thu giữ của bị cáo D.
- + 01 (một) máy in phun màu nhãn hiệu Canon K10470, vỏ máy màu đen, đã qua sử dụng;
- + 01 (máy) tính xách tay nhãn hiệu Asus FX503 VD màu đen, đã qua sử dụng.
Xét đây là các điện thoại là vật chứng các bị cáo liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội và máy tính, máy in sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
- Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, sơn màu đen, biển kiểm soát: 89K7-1644; số máy: C43E-0530986, số khung: 43139Y018448 kèm
01 đăng ký theo xe mang tên Nguyễn Thị A1 thu giữ của bị cáo Cao Xuân T sau thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo đầu tiên mà không có ai nhận là chủ sở hữu thì trả lại cho bà Nông Thị D1.
- Đối với số tiền 20.365.000 đồng( bị cáo S1 15.000.000 đồng, bị cáo D 5.000.000 đồng và bị cáo T 365.000 đồng ) các bị cáo được hưởng lợi từ việc làm, bán giấy khám sức khỏe giả cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
[11]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố:
Các bị cáo Hà Thái S, Nguyễn Thị Tuyết N1, Lê Đức D, Cao Xuân T phạm tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức .
Căn cứ:
Điểm a khoản 3 Điều 341 ; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: H ( ba mươi tám ) tháng tù,
thời hạn tù tính từ ngày bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là ngày 28/12/2023.
Căn cứ:
Điểm a khoản 3 Điều 341 ; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Lê Đức D 27 ( hai mươi bảy ) tháng tù,
thời hạn tù tính từ ngày bắt theo biên bản người phạm tội đầu thú là ngày 27/12/2023.
Xử phạt: Cao Xuân T 27 ( hai mươi bảy ) tháng tù,
thời hạn tù tính từ ngày bắt theo biên bản người phạm tội đầu thú là ngày 27/12/2023.
Căn cứ:
Điểm a khoản 3 Điều 341 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 15/2/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N1 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo,
Thời gian thử thách 60 ( sáu mươi ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Tuyết N1 cho Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dụng trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
-Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu xanh ngọc, bên trong lắp sim số 0382483281;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, dung lượng 32GB, số Seri FCDZ2331HG04 lắp sim số 0987906371;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu xanh rêu lắp sim số 0326644145;
- + 01 (một) máy in phun màu nhãn hiệu Canon K10470, vỏ máy màu đen, đã qua sử dụng;
- + 01 (máy) tính xách tay nhãn hiệu Asus FX503 VD màu đen, đã qua sử dụng.
-Tịch thu tiêu huỷ:
- + 02 (Hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen trắng, đều đóng ra hình dấu tròn, mực đỏ, ở giữa hình dấu tròn có dòng chữ "CÔNG TY CÓ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI", viền dấu tròn phía trên có dòng chữ “M.SD.N:0107276138- C.T.C.P”, viền dấu tròn phía dưới có dòng chữ: “Q.ĐỐNG ĐA - T.P HÀ NỘI”;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “ĐÃ THU TIỀN”, bằng mực đỏ;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đều đóng ra dòng chữ “ĐÃ THU TIỀN” phía trên và dòng chữ “Nguyễn Thị N2” phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đóng ra dòng chữ “PHÓ GIÁM ĐỐC PHÒNG GIAO DỊCH” phía trên và dòng chữ “Nguyễn Hữu K1”, phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu đỏ đen, đóng ra dòng chữ “PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHÁM SỨC KHỎE” phía trên và dòng chữ “BSCKI. Nguyễn Công S1”, phía dưới bằng mực màu đỏ;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “ĐỦ SỨC KHỎE HỌC TẬP-CÔNG TÁC”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra dấu hình chữ nhật, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ “Tim Phổi Bình Thường”;
- + 03 (ba) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKII. Ngô Chí T2”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BS.CKI. Nguyễn Kim M2”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Trần Thị N3”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Nguyễn Thị C”, bằng mực màu xanh;
- + 02 (hai) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đều đóng ra chữ “BSCKI. Nguyễn Công S1”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “ÂM TÍNH”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “ĐỦ SỨC KHỎE LÁI XE HẠNG:” bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh, đóng ra chữ “Ths. Lý Lan P” bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “BSCKI. Hà Duy C1”, bằng mực màu xanh;
- + 01 (một) con dấu bằng nhựa màu xanh đen, đóng ra chữ “BS. Trần Kiên”, bằng mực màu xanh;
-Tiếp tục đăng báo trong thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo đầu tiên là ngày 17/5/2024 nếu không ai nhận là chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, sơn màu đen, biển kiểm soát: 89K7-1644; số máy: C43E-0530986, số khung: 43139Y018448 kèm 01 đăng ký theo xe mang tên Nguyễn Thị A1 thì trả lại cho bà Nông Thị D1 .
( Tất cả các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/6/2024.
-Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền hưởng lợi từ việc phạm tội đối với các bị cáo cụ thể:
Buộc bị cáo Hà Thái S phải nộp số tiền thu lời bất chính là 15.000.000 đồng ( bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0015014 ngày 14/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ).
Buộc bị cáo Lê Đức D phải nộp số tiền thu lời bất chính là 5.000.000 đồng (bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0015067 ngày 19/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ).
Buộc bị cáo Cao Xuân T phải nộp số tiền thu lời bất chính là 356.000.000 đồng ( bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0015068 ngày 19/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ).
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
| Lại Hà Phương | Nguyễn Thanh T5 |
| Nguyễn Thị Hương Sen |
Bản án số 227/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 227/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo S, B1, D, T
