|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 227/2022/HS- ST |
|
|
Ngày: 26/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương.
Bà Lò Thị Vinh.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thái- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 224/2022/TLST- HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2022/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thành C; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1994, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Thôn Đ B 2, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn L (đã chết); Con bà: Bùi Thị O; sinh năm 1955; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 15/5/2015 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 20 tháng, ngày 16/11/2016 chấp hành xong. Hiện đã hết thời hạn và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo có nhân thân xấu.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2022 đến ngày 20/5/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ B. Được áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 20/5/2022 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ, ngày 12/5/2022, bị cáo Vũ Thành C đi bộ từ nhà ở Thôn Đ B 2, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên và cầm theo tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng với mục đích đi tìm mua Hồng phiến để sử dụng. Bị cáo đi đến khu vực giữa Bản X, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên có gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi (Bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu). Bị cáo hỏi người đàn ông đó: “Có Hồng phiến không?”. Người đàn ông đó nói: “Có” Bị cáo nói “bán cho 100.000 đồng”. Rồi Bị cáo lấy tiền ở trong người ra đưa cho người đàn ông đó. Người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho Bị cáo 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh, miệng gói được hơ lửa hàn kín. Bị cáo cầm lấy và xem bên trong gói nilon màu xanh đó có 04 viên Hồng phiến màu hồng, rồi đồng ý mua. Sau đó Bị cáo cất gói Hồng phiến đó vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về. Khi Bị cáo đi bộ được một đoạn thì gặp tổ công tác Công an xã T A đang làm nhiệm vụ tại khu vực Bản X, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên yêu cầu Bị cáo đứng lại để kiểm tra. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần bên trái của Bị cáo đang mặc có 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh, miệng gói được hơ lửa hàn kín, bên trong có 04 viên Hồng phiến màu hồng. Với nội dung trên tổ công tác mời người chứng kiến đến tiến hành đưa Bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở UBND xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo qui định. Sau khi hoàn tất thủ tục tổ công tác đưa Bị cáo cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng của vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B để điều tra làm rõ.
Cùng ngày tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vũ Thành C như sau: 04 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng: 0,36 gam gửi toàn bộ giám định, hoàn lại sau giám định là: 0,31 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 681/KL-KTHS ngày 19/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vũ Thành C gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 139/CT-VKSĐB ngày 20/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B truy tố bị cáo Vũ Thành C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 0,31 gam Methamphetamine là vật chứng hoàn lại sau giám định.
Về án phí: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thành C khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 12/5/2022 tại khu vực Bản X, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 gói ma túy có tổng khối lượng là 0,36 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
c)....Methamphetamine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở Thành C dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của Bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại tỉnh Điện Biên được gia đình nuôi dưỡng học hết lớp 07/12, nghỉ học ở nhà làm ruộng cùng gia đình. Ngày 15/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 20 tháng, ngày 16/11/2016 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống. Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo nghiện ma tuý từ năm 2012 cho đến ngày bị bắt.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của Viện kiểm sát đề nghị, HĐXX thấy có đủ cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên đối với mức hình phạt hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù đối với Bị cáo. HĐXX thấy rằng có thể xử mức hình phạt cao hơn mức đề nghị mới mang tính chất răn đe, giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án gồm: 0,31 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Các vấn đề khác: Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi (Bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu) Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thành C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt Bị cáo: 02 (hai) năm tù. Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 12/5/2022 đến 20/5/2022). Bị cáo còn phải chấp hành là: 01 năm 11 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày Bị cáo đi chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
* Tịch thu tiêu hủy: 0,31 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/7/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 227/2022/HS- ST ngày 26/08/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 227/2022/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 02 (hai) năm tù. Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 12/5/2022 đến 20/5/2022). Bị cáo còn phải chấp hành là: 01 năm 11 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày Bị cáo đi chấp hành án.
