Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2261/2024/KDTM-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Thảo

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Bùi Thị Hòa Bình
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Huệ - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thúy Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục sơ thẩm vụ án thụ lý số 0520/2020/TLST-KDTM, ngày 07 tháng 5 năm 2020, về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 695/2024/QĐST-KDTM ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 588/2024/QĐST-KDTM ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N

    Trụ sở: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Triều Mạnh Đ, sinh năm 1981;

    Địa chỉ: 5 Hồ N, Phường B, Quận F, TP ..

  2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3;

    Địa chỉ: A Đ, Phường A, quận B, TP .;

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1988;

    Địa chỉ: Số 10 Lê Thánh Tôn, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • - Ông Ong Anh P, sinh năm 1983;
    • - Bà Trương Thị Thanh T1, sinh năm 1982;
    • - Trẻ Ong Trân A, sinh năm 2019, do ông Ong Anh P, bà Trương Thị Thanh T1 là người đại diện hợp pháp;

    Cùng địa chỉ: Căn hộ S, C kết hợp căn hộ ở (G), số I N, Phường A, Quận D, TP

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2020 và các bản tự khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 24/4/2019, nguyên đơn có ký Hợp đồng tín dụng số 1605 LAV 201900051 với bị đơn để bổ sung vốn kinh doanh cho bị đơn; thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 24/4/2019; Lãi suất cho vay là 9,5%/năm; Lãi suất định kỳ điều chỉnh 06 tháng/lần, trần lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng bằng đồng Việt Nam theo quy định của Ngân hàng C (+) biên độ 1.5%; Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay cùng loại trong hạn tại thời điểm quá hạn.

Để đảm bảo khoản tiền vay của bị đơn. Ngày 24/4/2019, ông Nguyễn Huy Đ1 ký Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900037 với nguyên đơn, đã dùng tài sản của ông Đ1 là nhà, đất thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại địa chỉ A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 755960, số vào sổ cấp GCN đất H 10232 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Như L, bà Ngô Thị Kim P1 ngày 17/7/2007, được cập nhật thay đổi lần cuối ngày 24/4/2019 do ông Nguyễn Huy Đ1 là chủ sở hữu thế chấp cho nguyên đơn, đã đăng ký đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 26/6/2019, ông Ong Anh P ký Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900069 đã dùng tài sản của ông P là căn hộ chung cư số G1.19.6 thuộc thửa đất số 85, tờ bản đồ số 10 BĐC Phường 1, Quận D, tọa lạc tại địa chỉ số I, N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI347559, số vào sổ cấp GCN: CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, được cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019 do ông Ong Anh P là chủ sở hữu Phước thế chấp cho nguyên đơn, đã đăng ký đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng Đ2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 01/7/2019, bị đơn ký Giấy nhận nợ số 1605 LDS 20190016 để nhận số tiền 2.200.000.000 đồng. Ngày 04/9/2019, bị đơn ký Giấy nhận nợ số 1605 LDS 201900246 để nhận số tiền 18.635.000.000 đồng.

Ngày 02/10/2019, bị đơn ký Giấy nhận nợ số 1605 LDS 201900249 để nhận số tiền 6.365.000.000 đồng. Tổng cộng bị đơn đã nhận từ nguyên đơn là 27.200.000.000 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng số tiền là 28.898.002.728 đồng, gồm: Nợ gốc là 27.200.000.000 đồng + Tiền nợ trong hạn là 1.387.203.014 đồng + Tiền lãi quá hạn là 293.039.863 đồng + Tiền lãi chậm thanh toán là 17.759.851 đồng.

Trường hợp bị đơn không thanh toán các khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp là nhà đất thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại địa chỉ A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 755960, số vào sổ cấp GCN đất H 10232 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Như L, bà Ngô Thị Kim P1 ngày 17/7/2007, được cập nhật thay đổi lần cuối ngày 24/4/2019 do ông Nguyễn Huy Đ1 là chủ sở hữu thế chấp cho nguyên đơn để đảm bảo khoản tiền vay của bị đơn theo Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900037 và căn hộ chung cư số G1.19.06 tọa lạc tại địa chỉ C1 ở (G), số I đường N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019, theo Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900069 ngày 26/6/2019 để thu hồi nợ.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên vẫn chưa trả hết tiền nợ thì bị đơn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho nguyên đơn.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay bị đơn đã thanh toán một phần số tiền nợ là 25.743.652.000 đồng, gồm: nợ vốn là 25.342.744.191 + Tiền lãi là 400.907.809 đồng cho nguyên đơn và nguyên đơn đã giải chấp tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại địa chỉ A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 755960, số vào sổ cấp GCN đất H 10232 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/2007, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 24/4/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 1605 LCL 201900037 ký ngày 24/4/2019.

Ngày 09/5/2024, nguyên đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền nợ là 11.963.047.519 đồng, gồm: Tiền nợ gốc là 1.857.255.809 đồng + tiền nợ lãi trong hạn là 6.284.996.635 đồng, tính từ ngày 04/9/2019 đến ngày 09/5/2024 + tiền nợ lãi quá hạn là 2.939.677.872 đồng, tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 09/5/2024 + tiền nợ lãi chậm trả là 881.117.203 đồng tạm tính tính từ ngày 07/01/2020 đến ngày 09/5/2024. Bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký kể từ ngày 10/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp Công ty T3 không thanh toán các khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp là căn hộ chung cư số G1.19.06 tọa lạc tại địa chỉ C1 ở (G), số I đường N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019, theo Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900069 ngày 26/6/2019 để thu hồi nợ.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên vẫn chưa trả hết tiền nợ thì bị đơn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho nguyên đơn.

* Bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3, người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải để thực hiện quyền tranh tụng. Tuy nhiên, Công ty T3, bàTuyền không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có mặt theo các lần triệu tập của Toà án nên không ghi nhận được ý kiến.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị Thanh T1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải để thực hiện quyền tranh tụng. Tuy nhiên, bà T1 không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có mặt theo các lần triệu tập của Toà án nên không ghi nhận được ý kiến của bà T1.

Ông Ong Anh P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ngày 26/6/2019, ông P có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với nguyên đơn. Ông đã dùng tài sản của ông là căn hộ chung cư số G1.19.06 tọa lạc tại địa chỉ C1 ở (G), số I đường N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019 để đảm bảo cho khoản vay của bị đơn với số tiền bảo lãnh là 2.200.000.000 đồng. Ông đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 2.200.000.000 đồng mà tôi đã bảo lãnh số tiền vay của Công ty T3. Tôi đề nghị Ngân hàng miễn các khoản tiền lãi như tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm thanh toán cho ông.

Tại phiên tòa hôm nay: Ông Triều Mạnh Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 11.323. 510.020 đồng, gồm: Tiền nợ gốc là 1.857.255.809 đồng + tiền nợ lãi trong hạn là 606.275.685 đồng, tính từ ngày 04/9/2019 đến ngày 06/01/2020 + tiền lãi quá hạn là 8.630.224.957 đồng, tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 30/9/2024 + tiền lãi chậm thanh toán là 229.753.559 đồng, tính từ ngày 07/01/2020 đến ngày 30/9/2024. Bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh được quy định tại hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Trường hợp bị đơn không thanh toán các khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp là căn hộ chung cư số G1.19.06 tọa lạc tại địa chỉ C1 ở (G), số I đường N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019, theo Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900069 ngày 26/6/2019 để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên vẫn chưa trả hết tiền nợ thì bị đơn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu quan điểm:

Về hình thức: Tòa án ban hành thông báo về việc thụ lý vụ án và đưa vụ án ra xét xử là quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 09/5/2024 và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền là phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 11.323. 510.020 đồng, gồm: Tiền nợ gốc là 1.857.255.809 đồng + tiền nợ lãi trong hạn là 606.275.685 đồng, tính từ ngày 04/9/2019 đến ngày 06/01/2020 + tiền lãi quá hạn là 8.630.224.957 đồng, tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 30/9/2024 + tiền lãi chậm thanh toán là 229.753.559 đồng tính tính từ ngày 07/01/2020 đến ngày 30/9/2024. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 01/10/2024, giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán hết nợ.

Trường hợp bị đơn không thanh toán khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp là căn hộ chung cư số G1.19.06 tọa lạc tại địa chỉ C1 ở (G), số I đường N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019, theo Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900069 ngày 26/6/2019 để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên vẫn chưa trả hết tiền nợ thì bị đơn phải tiếp tục thanh toán hết số nợ còn lại cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn thì tranh chấp được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quan hệ tranh chấp trong vụ án này là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng". Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn, bà Nguyễn Thị Thanh T là người đại diện theo pháp luật của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ong Anh P, bà Trương Thị Thanh T1, trẻ Ong Trâm A1 do ông P, bà T1 là người đại diện hợp pháp có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa vào ngày 13/9/2024 và ngày 30/9/2024 nhưng bị đơn, bà T, ông P, bà T1, trẻ Ong Trâm A1 do ông P, bà T1 là người đại diện hợp pháp vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 09/5/2024, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện do bị đơn đã thanh toán một phần số tiền nợ là 25.743.652.000 đồng, gồm: nợ vốn là 25.342.744.191 + Tiền lãi là 400.907.809 đồng cho nguyên đơn và nguyên đơn đã giải chấp tài sản là quyền sử dụng đất là thửa đất số 3, tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại địa chỉ A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 755960, số vào sổ cấp GCN đất H 10232 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/2007, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 24/4/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 1605 LCL 201900037 ký ngày 24/4/2019. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút.

[4] Về yêu cầu của đương sự:

[4.1] Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng số tiền là 11.323. 510.020 đồng, gồm: Tiền nợ gốc là 1.857.255.809 đồng + tiền nợ lãi trong hạn là 606.275.685 đồng, tính từ ngày 04/9/2019 đến ngày 06/01/2020 + tiền lãi quá hạn là 8.630.224.957 đồng, tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 30/9/2024 + tiền lãi chậm thanh toán là 229.753.559 đồng tính tính từ ngày 07/01/2020 đến ngày 30/9/2024. Bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh được quy định tại hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ. Căn cứ các chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp như: Hợp đồng hợp đồng tín dụng số 1605 LAV 201900051, ngày 24/4/2019; Các giấy nhận nợ, các bảng tỉnh lãi..v..v...Việc nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm về hình thức, nội dung, không vi phạm điều cấm, đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119, 398 Bộ luật Dân sự. Trong thời gian thực hiện thanh toán nợ, bị đơn đã không thực hiện thanh toán tiền đúng hạn, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay. Việc vi phạm của bị đơn trong thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận.

[4.2] Xét, nguyên đơn yêu cầu trường hợp bị đơn không thanh toán số tiền nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là căn hộ chung cư số G1.19.06 tọa lạc tại địa chỉ C1 ở (G), số I đường N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019, để thu hồi nợ. Căn cứ hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900069 ngày 26/6/2019, thì việc các bên đương sự ký hợp đồng thế chấp tài sản được lập thành văn bản có công chứng tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện việc đăng ký đảm bảo tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, việc ký kết hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã tuân thủ đúng theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Dân sự và điểm c Điều 10; điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm. Vì vậy hợp đồng thế chấp này có giá trị pháp lý, nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên mà bị đơn vẫn chưa thanh toán hết tiền nợ thì bị đơn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho nguyên đơn.

Nếu bị đơn thanh toán hết khoản tiền nợ thì nguyên đơn phải giải chấp tài sản và trả lại cho bị đơn, ông Ong A1 Phước toàn bộ bản chính gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019 do ông Ong Anh P là chủ sở hữu.

[5] Đối với bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa mà không có lý do, đồng thời không cung cấp các chứng cứ nào khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thể hiện bị đơn thiếu tinh thần thiện chí trong việc thanh toán số tiền chưa thanh toán và tự từ bỏ quyền tranh tụng tại tòa để bảo vệ quyền lợi của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.

[6] Xét, đối với lời trình bày của ông P đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 2.200.000.000 đồng mà ông đã bảo lãnh số tiền vay của bị đơn và đề nghị nguyên đơn miễn các khoản tiền lãi như tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm thanh toán cho ông, nhưng yêu cầu này của ông P thì phía nguyên đơn không đồng ý. Căn cứ Điều 2 Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900069 ngày 26/6/2019, quy định “Bên B tự nguyện đem tài sản được nêu tại hợp đồng này thế chấp cho bên A để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho bên C tại hợp đồng tính dụng số 1605 LAV 201900051 ngày 24/4/2019 (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí khác liên quan nếu có) trong đó số tiền gốc tối đa là 2.200.000.000 đồng”. Do đó, yêu cầu này của ông P không có cơ sở để chấp nhận.[7] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh,Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án và đưa ra ý kiến giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 63, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 275, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, về việc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 25.743.652.000 đồng, gồm: Nợ gốc là 25.342.744.191 đồng + Tiền lãi là 400.907.809 đồng.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 phải thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền còn nợ là 11.323. 510.020 đồng, gồm: Tiền nợ gốc là 1.857.255.809 đồng + tiền nợ lãi trong hạn là 606.275.685 đồng, tính từ ngày 04/9/2019 đến ngày 06/01/2020 + tiền lãi quá hạn là 8.630.224.957 đồng, tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 30/9/2024 + tiền lãi chậm thanh toán là 229.753.559 đồng tính tính từ ngày 07/01/2020 đến ngày 30/9/2024. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán hết nợ.

    Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 không thanh toán số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là căn hộ chung cư số G1.19.06 tọa lạc tại địa chỉ C1 ở (G), số I đường N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019 do ông Ong A1 P là chủ sở hữu để thu hồi nợ.

    Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 vẫn chưa trả hết tiền nợ thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng.

    Nếu Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 thanh toán hết khoản tiền nợ thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản và trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 toàn bộ bản chính gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 347559, số vào sổ cấp GCN CS 09429/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 22/5/2017, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 27/6/2019 do ông Ong Anh P là chủ sở hữu.

    Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

  3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 phải chịu là 119.323.510 đồng, nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

    Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng N là 68.460.000 đồng theo theo biên lai thu số 0017956 ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo: Ngân hàng N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3; Ông Ong Anh P, bà Trương Thị Thanh T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND quận Bình Thạnh;
  • - THADS quận Bình Thạnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2261/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2261/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger