Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Bế Thiện và ông Lê Đình Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Huỳnh Việt L - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 202/2024/TLST-HS, ngày 01/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2022/QĐXXST-HS ngày 16/8/2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: VŨ ĐỨC D, sinh ngày 06/4/2002 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Sán Chay; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn T, con bà Hà Thị L1. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

    (Có mặt tại phiên tòa).

  3. Họ và tên: TÒNG ĐỨC T, sinh ngày 07/4/2004 huyện Đ, tỉnh Điện Biên; tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tòng Văn Đ (Đã chết), con bà Lò Thị K. Có vợ Lường Thị T1 và có 01 con sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

    (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Vũ Đức D:

Bà Trần Lan A, sinh năm 1990

Là Luật sư của Công ty L3 – Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ chi nhánh T7: Số F đường B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

Anh Lương Văn T2, sinh năm 1985.

Trú tại: Tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Vũ Văn T, sinh năm 1970.

Trú tại: Xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

- Những người làm chứng:

  1. Anh Nông Văn Q, sinh năm 2001.
  2. Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

    Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

    (Vắng mặt tại phiên tòa).

  3. Anh Phạm Văn N, sinh năm 2004.
  4. Nơi ĐKHKTT: Xóm K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

    Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

    (Vắng mặt tại phiên tòa).

  5. Anh Ngô Văn Đ1, sinh năm 1999.
  6. Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

    Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

    (Vắng mặt tại phiên tòa).

  7. Chị Trịnh Thị L2, sinh năm 1972
  8. Trú tại: Tổ C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, anh Lương Văn T2 cùng các bạn tên là M, T3 (Chưa xác định được lai lịch cụ thể) đến quán Karaoke “L" thuộc tổ C, phường Q, T bà Trịnh Thị L2 làm chủ để hát và uống bia. Quá trình hát và uống bia, nhóm anh T2 có gọi 02 nhân viên nữ làm dịch vụ rót bia đến hát cùng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, cả nhóm hát và uống bia xong thì anh T2 xuống quầy lễ tân để thanh toán tiền. Quá trình thanh toán, anh T2 cho rằng quán thu tiền nhân viên nữ rót bia không đúng nên có xảy ra cãi chửi nhau với bà L2. Lúc này, có 03 nam thanh niên là người chở các nữ nhân viên rót bia đến quán gồm: Phạm Văn N, Nguyễn Văn N1, Vũ Đức D đến nói chuyện thì có xảy ra tranh cãi với anh T2. Cho rằng anh T2 đi hát không trả tiền nhân viên dịch vụ rót bia còn định vào đánh D nên N1 gọi điện thoại cho Ngô Văn Đ1 đến để giải quyết. Sau một lúc tranh cãi, anh T2 đã bỏ tiền ra trả nốt số tiền còn thiếu rồi lấy xe mô tô để ra về cùng bạn. Do không biết đường nên nhóm của anh T2 điều khiển xe đi nhầm đường vào đường cụt cạnh quán K1 gần đó nên quay đầu lại. Khi nhóm của anh T2 đang quay lại thì gặp một nhóm khoảng 11 đối tượng đứng chặn xe của anh T2 lại gồm: Nông Văn Q, Phạm Văn N, Ngô Văn Đ1, Vũ Đức D, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Trường S, Trương Văn T4, Tạ Văn H, Nguyễn Đức H1, Nguyễn Văn H2, Tòng Đức T5. Lúc này, anh T2 cùng anh M, anh T3 xuống xe thì Ngô Văn Đ1, Trương Văn T4 xông đến dùng chân phải đạp trúng vào vùng bụng khiến anh T2 ngã xuống gốc cây xoài ven đường rồi tiếp tục xông đến dùng tay đấm trúng vào người anh T2. Lúc này, Nguyễn Đức H1 cũng xông đến dùng tay phải cầm mũ bảo hiểm vụt trúng vào vùng lưng anh T2. Sau đó, hai nhóm đứng lại cãi chửi nhau thì Nguyễn Văn H2 xông đến dùng chân trái đá trúng vào vùng mặt của anh T2. Do bực tức vì bị đánh nên anh T2, anh M đã nhặt gạch ở vỉa hè định ném lại thì nhóm đối tượng trên lùi ra. Sau khi nhóm trên lùi lại, anh M dùng tay phải cầm 01 viên gạch ném về phía nhóm đối tượng trên thì các đối tượng chạy ra các vị trí khác nhau nhặt gạch và dùng mũ bảo hiểm ném trả về phía anh T2, anh M, trong đó: Nông Văn Q sử dụng 01 mũ bảo hiểm ném về phía anh T2 nhưng đập xuống lòng đường nảy lên trúng vào chân anh T2. Trương Văn T4 sử dụng tay phải ném 01 viên gạch về phía nhóm của anh T2, anh M nhưng không trúng sau đó lùi lại nhặt 01 viên gạch ném tiếp về phía nhóm anh T2. Nguyễn Trường S sử dụng tay phải ném 01 viên gạch về phía nhóm của anh T2, anh M nhưng không trúng. Nguyễn Văn N1 sử dụng tay phải ném 01 viên gạch về phía nhóm anh T2, anh M nhưng không trúng sau đó lùi lại nhặt 01 viên gạch ném tiếp về phía nhóm anh T2. Nguyễn Đức H1 sử dụng 01 mũ bảo hiểm ném về phía anh T2 nhưng không trúng, đập xuống lòng đường. Tạ Văn H tay trái cầm 01 điếu cày, tay phải ném 01 viên gạch về nhóm của anh T2 nhưng không trúng.

Sau khi hai bên sử dụng gạch, mũ bảo hiểm ném qua lại, anh T2 dùng tay phải cầm theo 01 viên gạch chạy đuổi về phía Nguyễn Trường STrương Văn T4 đang đứng trước cửa quán K2 để đánh S, T4. Khi anh T2 đang lao đến thì bị T4 sử dụng tay phải cầm 01 viên gạch ném trúng vào vùng mặt khiến anh T2 bị chấn thương tầng giữa sọ mặt, vỡ nhãn cầu và S ném 01 viên gạch khác sượt qua vai anh T2. Anh T2 bị ném trúng thì một tay ôm mặt rồi lao vào ôm và đấm T4. Thấy vậy, N, T5 cùng lao vào dùng chân, tay đấm, đá và dùng mũ bảo hiểm vụt trúng vào người anh T2 giúp T4, trong đó T5 trực tiếp dùng chân, tay không đấm, đá khoảng 04 đến 05 phát vào người anh T2. Sau đó, những người còn lại gồm: Q, S, H2, N1, H1 cùng xông đến để đánh anh T2 nhưng bị N, T5 lao vào đánh trước đứng kín xung quanh nên bị vướng nên không thể đánh anh T2 được. Đúng lúc này, anh M xông vào đánh lại nhóm của T4, S để giúp đỡ anh T2 thì Q, S, H2, N1, H1 thấy vậy nên quay sang dùng tay chân đấm, đá và sử dụng mũ bảo hiểm, gạch ném về phía người anh M. Lúc này, Vũ Đức D cũng xông đến dùng chân phải đạp 01 nhát trúng vào người anh T2 còn H chạy từ phía bên kia đường đến cầm theo 01 viên gạch ném về phía anh M nhưng không trúng. Sau đó, nhóm của S, T4 thấy anh T2 nằm gục bất động dưới lòng đường thì lên xe bỏ đi khỏi hiện trường.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh T2 về đến nhà được gia đình đưa đến bệnh viện T8 cấp cứu.

Hậu quả: Anh Lương Văn T2 bị thương tích: Vỡ mỏm gò má xương thái dương trái lan vào diện khớp thái dương hàm dưới, không thấy trật khớp. Vỡ thành ngoài, thành trong, sàn ổ mắt trái, thoát vị mỡ và cơ thẳng trong qua diện gãy xương thành trong ổ mắt. Thâm nhiễm mỡ ổ mắt. Đụng dập nhãn cầu trái. Gãy xương mũi trái. Vỡ thành trên xoang hàm trái, dày niêm mạc xoang.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 495/KLTTCT-GĐTT ngày 15/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  1. Các kết quả chính: Mắt (T) sáng tối âm tính.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Văn T2 tại thời điểm giám định là: 41%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.
  3. Kết luận khác: Hiện tại bệnh nhân đang nằm điều trị tại Bệnh viện, có thể có những tổn thương chưa thể đánh giá, xác định được ngay nên sau khi bệnh nhân ra viện, Cơ quan Cảnh sát điều tra có thể trưng cầu giám định bổ sung.

Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 803/KLTTCT-GĐTT ngày 25/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  1. Các kết quả chính: Mắt trái sáng tối âm tính, tỷ lệ: 41%. Vỡ gò má xương thái dương trái, tỷ lệ: 8%. Vỡ ổ mắt trái, tỷ lệ: 7%. Tổn thương tháp mũi, tỷ lệ: 7%. Vỡ xoang hàm trái, tỷ lệ: 7%. 01 sẹo phần mềm vùng mặt KT nhỏ tỷ lệ: 3%. Cộng: 41%+8%+7%+7%+7%+3% = 57,64% (Làm tròn số là 58%).
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong pháp y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Văn T2 tại thời điểm giám định là: 58%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thu giữ 01 ổ cứng loại TOSHIBA APR-2018 do anh Nguyễn Quang T6 (sinh năm 1983, trú tại: tổ A, phường H, thành phố T) giao nộp và 01 đầu thu camera nhãn hiệu KB VISION, model: KX-8108H1 do chị Phạm Thị Q1 (sinh năm 1982, trú tại: tổ C, phường Q, thành phố T) giao nộp. Tiến hành trích xuất 02 đoạn video clip có ghi lại nội dung vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra D đã tác động gia đình bồi thường cho anh T2 được số tiền 30.000.000 đồng, còn T5 chưa bồi thường được khoản tiền nào.

Tại phiên toà, Vũ Đức D, Tòng Đức T5 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 213/CT-VKSTPTN, ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo Vũ Đức D, Tòng Đức T5 về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Đức D, Tòng Đức T5 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

- Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đức D từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tòng Đức T5 từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Vũ Đức D đã bồi thường cho bị hại Lương Văn T2 với số tiền là 30.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Tòng Đức T5 phải bồi thường khoản tiền gì. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước, các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận, các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng các bị cáo đều có ý kiến xin lỗi bị hại về hành vi đã gây thương tích cho anh T2 và đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Vũ Đức D: Trình bày lời bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử: Luật sư nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia gây thương tích cho anh T2, D thực hiện hành vi gây thương tích do bộc phát, cường độ, mức độ thực hiện không quyết liệt đến cùng, chỉ tấn công anh T2 một lần. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, D tuy còn trẻ và không có thu nhập ổn định nhưng đã nhận thức ra lỗi lầm nên đã tác động gia đình bồi thường cho anh T2 30.000.000 đồng, trong đó D có 5.000.000 đồng tiết kiệm. Khi phạm tội bị cáo D là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, tuổi còn trẻ, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Luật sư đồng tình với bản luận tội của Viện kiểm sát, đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên bị cáo D phạm tội, tuổi đời còn trẻ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo D được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T; Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
  3. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với chính lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản sự việc, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

    Khoảng 20 giờ ngày 09/6/2023 tại khu vực tổ C, phường Q, thành phố T, Nông Văn Q, Phạm Văn N, Ngô Văn Đ1, Vũ Đức D, Tòng Đức T5, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H2, Tạ Văn H, Nguyễn Trường S, Nguyễn Đức H1, Trương Văn T4 là những người không có mâu thuẫn trực tiếp với anh Lương Văn T2 đã có hành vi dùng gạch, mũ bảo hiểm và chân, tay đánh gây thương tích cho anh T2 với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 58%. Trong vụ án này, Nông Văn Q, Phạm Văn N, Ngô Văn Đ1, Vũ Đức D, Tòng Đức T5, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H2, Tạ Văn H, Nguyễn Trường S, Nguyễn Đức H1, Trương Văn T4 cùng tham gia đồng phạm với vai trò là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

    Đối với Nông Văn Q, Phạm Văn N, Ngô Văn Đ1 đã bị xét xử tại Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Đối với Tạ Văn H, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Trường S, Nguyễn Đức H1, Trương Văn T4 đã bỏ trốn khỏi địa phương, không rõ đang ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tách vụ án hình sự trên để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

    Hành vi của các bị cáo D, T5 đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng ... hung khí nguy hiểm....

    i) Có tính chất côn đồ;

    ...

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến đến điểm k khoản 1 Điều này.”

  4. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  5. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, khung hình phạt mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm rất nghiêm trọng. Các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác động của tội phạm do mình gây ra sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây mất an ninh, trật tự của địa phương, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo bằng pháp luật hình sự.

    Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi thực hiện tội phạm của mình, do đó các bị cáo D, T5 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo D quá trình điều tra đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả (trong đó bị cáo D có 5.000.000 đồng) và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo D được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

    Xét nhân thân, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì. Các bị cáo có vai trò như nhau trong vụ án, đều là những người thực hành tích cực, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, tổ chức, điều hành. Tuy nhiên, người trực tiếp gây ra thương tích lớn nhất cho anh T2Trương Văn T4 đã trực tiếp dùng gạch ném trúng vùng mắt trái anh T2 khiến mắt trái anh T2 sáng tối âm tính, các bị cáo D, T5 cùng tiếp nhận, thống nhất ý chí với các bị cáo khác, trong đó D dùng chân đạp một nhát trúng vào người anh T2, T5 dùng tay chân đấm đá khoảng bốn đến năm phát trúng vào người anh T2, do đó các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả thiệt hại đã gây ra. Xét thấy, bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ tấn công đánh anh T2 một lần nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt thấp hơn so với bị cáo T5.

    Vì vậy, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ của tội phạm, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

  6. Về trách nhiệm dân sự:
  7. Ghi nhận việc bị cáo Vũ Đức D đã bồi thường cho bị hại anh Lương Văn T2 với số tiền là 30.000.000 đồng, bị cáo D đã bồi thường xong cho bị hại. Ghi nhận việc bị hại anh Lương Văn T2 không yêu cầu bị cáo Tòng Đức T5 phải bồi thường khoản tiền gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  8. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, trách nhiệm dân sự, án phí là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
  9. Lời bào chữa và đề nghị của luật sư đối với bị cáo Vũ Đức D xét thấy có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

  10. Về bắt tạm giam các bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam mỗi bị cáo với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  11. Vật chứng của vụ án là: 01 (một) ổ cứng loại TOSHIBA APR-2018, đã qua sử dụng, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Quang T6. 01 (một) đầu thu camera nhãn hiệu KB VISION, model: KX-8108H1, màu đen bạc, đã qua sử dụng, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Phạm Thị Q1 quản lý và sử dụng. 01 (một) USB được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa 02 đoạn video ghi lại nội dung vụ án, hiện được chuyển theo hồ sơ vụ án. Những vật chứng gồm: 01 (một) mảnh bê tông, kích thước (17x9x06)cm; 01 (một) viên gạch bằng đất nung, kích thước (10x09x05)cm; 01 (một) viên gạch bằng đất nung, kích thước (14x09x05)cm; 01 (một) mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai bằng nhựa màu đen, kích thước (27x18x10)cm, đã qua sử dụng. Hiện số vật chứng trên đã được xử lý tại Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  12. Về án phí: Buộc các bị cáo Vũ Đức D, Tòng Đức T5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
  13. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự (áp dụng đối với bị cáo Vũ Đức D). Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự (áp dụng đối với bị cáo Tòng Đức T5). Khoản 2 Điều 136, Điều 329; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (áp dụng đối với cả hai bị cáo).

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Đức D, Tòng Đức T5 đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt chính:
  3. Xử phạt bị cáo Vũ Đức D 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2024.

    Xử phạt bị cáo Tòng Đức T5 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2024.

  4. Quyết định tạm giam các bị cáo sau khi tuyên án: Ra Quyết định tạm giam các bị cáo Vũ Đức D, Tòng Đức T5 mỗi bị cáo với thời hạn là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  5. Về trách nhiệm dân sự:
  6. Ghi nhận việc bị cáo Vũ Đức D đã bồi thường cho bị hại anh Lương Văn T2 với số tiền là 30.000.000 đồng, bị cáo D đã bồi thường xong cho bị hại. Ghi nhận việc bị hại anh Lương Văn T2 không yêu cầu bị cáo Tòng Đức T5 phải bồi thường khoản tiền gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  7. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Đức D, Tòng Đức T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
  8. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo Vũ Đức D, Tòng Đức T5; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (ông Vũ Văn T), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại (anh Lương Văn T2), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND thành phố Thái Nguyên;
  • - Cơ quan điều tra CA thành phố Thái Nguyên;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục T.H.A DS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; bị hại; những người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 226/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức D và Tòng Đức T phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger