Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/5/2024

V/v: “ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Như Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thanh Thủy.
  2. Ông Trần Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 621/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023, về “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988. (có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1988 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số D đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 23/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thanh L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 135, quyển số 01/2013 ngày 24/9/2013. Ông, bà có một con chung là Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 02/5/2014.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, tình cảm đối với nhau không còn. Nhận thấy không còn khả năng hàn gắn, nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Ông, bà không có tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh L trình bày: Ông và bà H chung sống, có đăng ký kết hôn vào năm 2013. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đúng như bà H trình bày. Ông đồng ý ly hôn với bà H. Ông đồng ý giao trẻ Minh T cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên tự thoả thuận việc cấp dưỡng nuôi con.

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, triệu tập bị đơn đến Tòa để hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án dân sự thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thanh L là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “tranh chấp về ly hôn”. Xét bị đơn có nơi cư trú tại Quận A, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Xét thấy nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thanh L.

2. Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

[3] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 135, quyển số 01/2013 ngày 24/9/2013, do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thanh L, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L là hợp pháp.

[4]. Xét yêu cầu được ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà H trình bày do bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng bà thường xuyên mâu thuẫn, tình trạng mâu thuẫn kéo dài nhiều năm không giải quyết được, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, nên bà yêu cầu được ly hôn. Phía ông L đã đến Tòa trình bày lời khai và đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các Thông báo và Giấy triệu tập ông L đến Toà để Toà án hoà giải, nhưng ông L vắng mặt, cho thấy ông L không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình yêu thương, sự quan tâm, tôn trọng và trách nhiệm giữa đôi bên với nhau không còn, nên tình trạng vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo yêu cầu của một bên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của nguyên đơn.

2.2. Về con chung:

[5] Căn cứ Giấy khai sinh số 139, quyển số 01/2014, ngày 22/5/2014, do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Ngọc Minh T (nữ), sinh ngày 02/5/2014 là các chung của bà H và ông L.

[6] Bà H yêu cầu Toà án giải quyết cho bà H được trực tiếp nuôi con. Phía ông L đồng ý giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay trẻ T đang được bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và trẻ Thư có nguyện vọng được ở với mẹ, nên Tòa án giao trẻ Nguyễn Ngọc Minh T bà H tiếp tục trực tiếp nuôi là phù hợp.

[7] Bà H, ông L tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[8] Căn cứ vào các Điều 81; 82; 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, nên bà H phải chịu án phí là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,

- Căn cứ Điều 2 và khoản 1 Điều 56, Điều 81; 82; 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Thanh L.
  2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 02/5/2014 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H và ông L tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con.
  3. Ông Nguyễn Thanh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

    Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thanh L khai không có.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng: Bà Nguyễn Thị H chịu, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0035681 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Như Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 226/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger