|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 226/2024/HSST Ngày: 26/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Tám.
- Ông Nguyễn Văn Văn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐST-HS ngày 26/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 278/2024/QĐST-HS ngày 09/8/2024, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Khương Minh K. Tên gọi khác: không.
Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/12/2006; tại tỉnh Kiên Giang.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Vĩnh Phong, xã Vĩnh Tuy, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở: ấp Tân Tiến, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: không.
Cha: Khương Minh T, sinh năm: 1987; Mẹ: Phan Thị Kiều T1, sinh năm: 1983.
Anh, chị, em: 02 người (kể cả bị cáo).
Vợ, con: không.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 15/01/2024 đến nay.
Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phan Thành P. Tên gọi khác: không có.
Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1992; tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Tân Thạnh, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở: khu phố 6, thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 00/12; Nghề nghiệp: không.
Cha: Phan Tấn L, sinh năm: 1964; Mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1970.
Vợ, con: không.
Tiền án, tiền sự: không.
Anh, chị, em: 02 người (kể cả bị cáo).
Tiền án: nhận Bản án 201/2011/Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Chấp hành án tại trại giam X ngày 14/01/2012 chấp hành xong về địa phương.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 15/01/2024 đến nay.
Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
- Người giám hộ cho bị cáo K gồm có:
- Ông Khương Minh T, sinh năm: 1987; (vắng mặt)
- Bà Phan Thị Kiều T1, sinh năm: 1983. (có mặt)
Cùng ngụ địa chỉ: Số A, đường A, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Khương Minh K có ông Vũ Văn T2 – thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: số D N, phường I, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 15/01/2024, Khương Minh K thuê xe Grap đi đến khu vực bến xe A để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, K gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) mua một 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, K thuê xe G đi đến nhà của Phan Thành P tại nhà không số, thuộc tổ G, khu phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, K đến nhà của P thì trong nhà chỉ có P. K rủ P sử dụng ma túy thì P đồng ý và kêu K đi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đặt ở phía ngoài cổng trụ điện gần nhà để P giấu vào. K lấy bộ dụng cụ mang vào phòng của P rồi lấy gói ma túy đó hết vào bộ dụng cụ và đưa cho P chia ma túy. P lấy quẹt gas nấu ma túy rồi đưa cho K hút. Sau đó, đến P hút. Sau khi sử dụng xong thì P để bộ dụng cụ sử dụng trong ống thụt thủy tinh vẫn còn chất ma túy xuống nền gạch. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy, trong ống thụt thủy tinh còn chất ma túy chưa sử dụng hết nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa K và P về trụ sở làm việc.
Tại cơ quan điều tra P và K còn khai nhận trước đó vào khoảng 15 giờ 00 ngày 09/01/2024, P đang ở nhà thì K đến chơi và rủ P góp tiền mua ma túy về sử dụng. P đồng ý và đưa cho K 100.000 đồng để K đi mua ma túy với giá 200.000 đồng về sử dụng. Sau đó, K thuê xe Grap đi đến bến xe A thuộc Quận A, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được chất ma túy, K quay lại nhà P tại khu phố 6, thị trấn C, huyện C thì P kêu K lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy được cất giấu ở ngoài trụ điện trước nhà mang vào phòng ngủ của P. Tại đây, K lấy gói ma túy đó hết vào bộ dụng cụ sử dụng rồi đốt lên hút trước, sau đó đến bị cáo P hút. K và P thay phiên nhau sử dụng hết số ma túy trong bộ dụng cụ rồi bị cáo K đi về.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Thành P tại khu phố F, thị trấn C, huyện C, TP và chỗ ở của Khương Minh K tại ấp T, xã T, huyện C, TP, đều không phát hiện thu giữ gì.
Kết luận giám định số 1353/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H xác định: Tinh thể màu nâu được ký hiệu mẫu m cân giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2791g loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 447/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- 01 quẹt gas.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C (bút lục 57-58).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi như đã nêu trong cáo trạng.
Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Khương Minh K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét xử bị cáo Phan Thành P về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên công tố luận tội:
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Cụ thể:
Vật lúc 12 giờ 35 phút ngày 15 tháng 01 năm 2024 tại căn nhà không số thuộc tổ G, khu phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, Khương Minh K đang tàng trữ trong ống nhựa thủy tinh là chất ma túy có khối lượng 0,2791 gram, loại Methamphetamine để sử dụng; Khương Minh K và Phan Thành P có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Trước đó, ngày 09/01/2024, K và P có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Khương Minh K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Phan Thành P về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Khương Minh K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 101; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Khương Minh K từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Áp dụng s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 101; điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Khương Minh K từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.
Bị cáo Phan Thành P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; điểm a, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phan Thành P từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo K.
Đối với người thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Khương Minh K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 447/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 quẹt gas.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo K trình bày:
Việc kiểm sát viên truy tố bị cáo K theo tình tiết định khung ở điểm a, khoản 2 Điều 255 BLHS là “phạm tội 2 lần trở lên” là chưa đủ căn cứ, thiếu thuyết phục, vì lần phạm tội vào ngày 09/01/2024 là do bị cáo K và bị cáo P khai thêm, không có tang vật, chứng cứ gì để chứng minh việc này. Theo quy định tại Điều 98 BLTTHS 2015 thì: “Lời nhận tội của bị cáo, bị hại chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.”
Khi Công an đến nhà bị cáo P và bắt quả tang các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, trong ống chứa đựng ma túy thì số lượng ma túy còn để các bị cáo hút tiếp là trên 2mg. Việc kiểm sát xác định thời điểm thu giữ tang vật tại nhà bị cáo P và số lượng ma túy còn trong ống đựng của hụt ma túy là căn cứ để buộc tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên Viện kiểm sát chỉ truy tố bị cáo K mà không truy tố bị cáo P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là chưa chính xác, thiệt thòi cho bị cáo K.
Trình độ nhận thức của bị cáo K chưa phát triển đầy đủ, trình độ học vấn thấp; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ly hôn, mẹ con nhiều năm mới trò, mẹ thì đi làm công nhân, không có thời gian chăm sóc, quản lý con; Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mong Hội đồng xét xử xem xét một mức án phù hợp nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, để phát triển lành mạnh về thể chất lẫn tinh thần và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bà T1 trình bày: Tôi thống nhất với những nội dung mà Luật sư T2 đã trình bày, tôi không có ý kiến gì bổ sung.
Bị cáo K trình bày: Bị cáo thống nhất với nội dung mà Luật sư vừa trình bày, bị cáo không bổ sung gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
- Bị cáo K không trình bày gì.
- Bị cáo P không trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ có tại hồ sơ, kết luận giám định số 1353/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu nâu được ký hiệu mẫu m cân giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2791g loại Methamphetamine là ma túy của bị cáo K mua để sử dụng; Ngày 15/01/2024, bị cáo K rủ bị cáo P cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn nhà không số thuộc tổ G, khu phố F, thị trấn C, huyện
C, thành phố Hồ Chí Minh; Ngày 09/01/2024, bị cáo P rủ và cùng bị cáo K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng tại căn nhà không số thuộc tổ G, khu phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo K chưa tròn 18 tuổi. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Khương Minh K đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Phan Thành P đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Khương Minh K và bị cáo Phan Thành P về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo P là người thành niên, bị cáo K là người chưa thành niên (chưa tròn 18 tuổi), nhưng các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ràng việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành người tốt đóng góp phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có một hình phạt tương xứng.
Vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo K đã thực hiện hành vi phạm tội: Tiền án, tiền sự: không; Khi chưa tròn 18 tuổi; Tiền án, tiền sự: không. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo K là có cơ sở.
Cũng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo P đã thực hiện hành vi phạm tội: Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: xấu; Bị cáo có hai tình tiết định khung tăng nặng. Tại phiên tòa, bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51; điểm a, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo P là có cơ sở.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo K là người chưa thành niên, bị cáo P không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với người thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Khương Minh K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Hành vi của bị cáo Phan Thành P có dấu hiệu đồng phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với bị cáo Khương Minh K về việc tàng trữ 0,2791g ma túy, loại
Methamphetamine vào ngày 15/01/2024, tại căn nhà không số thuộc tổ G, khu phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (nhà của bị cáo P), nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không truy tố, kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 gói niêm phong mang số vụ 447/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 quẹt gas. Xét đây là vật cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển; Vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
Những nội dung, luận cứ mà Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo K đưa ra về việc truy tố bị cáo K tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 là không có cơ sở, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Khương Minh K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Truy tố bị cáo Phan Thành P về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của N1; xử lý vật chứng như nhận định nêu trên, xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo K, bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Khương Minh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Phan Thành P phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Khương Minh K 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Khương Minh K 05 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Khương Minh K phải chịu về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phan Thành P 08 (T3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
-
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 447/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 quẹt gas.
Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 80/PNK ngày 25/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Bút lục số 57)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
-
Án phí HS-ST: Bị cáo Khương Minh K và bị cáo Phan Thành P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo K, bị cáo P, bà T1, ông T2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông Thanh vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
- - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
- - VKSND huyện Củ Chi;
- - Công an huyện Củ Chi;
- - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
- - Phòng PC 27;
- - Bị cáo;
- - Lưu: Vp, hồ sơ. (16b)
|
Phan Hùng Vương |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
||
| Hội thẩm nhân dân | Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 226/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 226/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
