Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HN-ST

Ngày: 26/7/2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Phụng, ông Đặng Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 304/2024/TLST-HN ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2024/QĐXXST-HN ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Ngọc Thùy T, sinh năm 1977, cư trú: số nhà H, ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị đơn: ông Phạm Minh T1, sinh năm 1980, cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 22/4/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T2 trình bày:

Bà và ông Phạm Minh T1 tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hay cự cãi, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, hiện vợ chồng đã ly thân được 05 năm. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông T1.

- Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Ngọc Thanh M, sinh ngày 19/12/2004 (đã thành niên) và Phạm Bảo N, sinh ngày 01/4/2014, hiện cháu N đang sống với bà T2. Khi ly hôn, bà T2 yêu cầu trực tiếp nuôi con chung Phạm Bảo N và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Minh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T1 vẫn không đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T2 đối với ông T1. Về quan hệ con chung, bà T2 được tiếp tục chăm sóc con chung tên Phạm Bảo N, sinh ngày 01/4/2014, ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Ngọc Thùy T có đơn yêu cầu ly hôn với ông Phạm Minh T1, ông T1 cư trú ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Ông Phạm Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông T1 quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà T xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông T1 không lo cho vợ con, vợ chồng hay cự cãi và đã ly thân từ năm 2019 đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống do ông T1 không lo vợ con, vợ chồng cự cãi và ly thân từ năm 2019, hiện nay bà T ở nhà mẹ ruột, còn ông T1 về nhà mẹ ruột sinh sống từ năm 2019 đến nay và không liên lạc với nhau. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có căn cứ theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[2.2] Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Phạm Ngọc Thanh M, sinh ngày 19/12/2004 (đã thành niên) và Phạm Bảo N, sinh ngày 01/4/2014, hiện cháu N đang sống với bà T. Xét thấy, con chung đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định và cháu N cũng có ý kiến muốn sống với bà T. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, giao cháu Phạm Bảo N cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Thùy T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Thùy T được ly hôn với ông Phạm Minh T1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 13/PH ngày 23/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Phạm Minh T1 và bà Nguyễn Ngọc Thùy T không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung:

Bà Nguyễn Ngọc Thùy T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Bảo N, sinh ngày 01/4/2014. Ông Phạm Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Nguyễn Ngọc Thùy T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phạm Minh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Ngọc Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015400 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 22 tháng 4 năm 2024.

Ông Phạm Minh T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;

  • - TAND tỉnh An Giang;

  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;

  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HN-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 226/2024/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 304/2024/TLST-HN ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2024/QĐXXST-HN ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Ngọc Thùy T, sinh năm 1977, cư trú: số nhà H, ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: ông Phạm Minh T1, sinh năm 1980, cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger