Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/DS-ST

Ngày: 24/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Dũng;
  2. Bà Đặng Thị Hiền Thục

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 392/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N

Địa chỉ: B L, Phường T, Quận B, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn C, sinh năm: 1994 (có mặt)

(Theo Giấy ủy quyền số 976/GUQ-NHNo.LTK-KTNB ngày 22/6/2023 của Ngân hàng N chi nhánh L1)

- Bị đơn:

  1. Ông Châu Thành Đ, sinh năm 1967 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: 8 Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Cao Hữu P, sinh năm 1977 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: B Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2023 và bản tự khai ngày 28/6/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N có ông Phạm Văn C đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 26/10/2022, Ngân hàng N (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Châu Thành Đ có ký hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200990. Ông Đ vay số tiền là 1.750.000.000 (một tỷ bảy trăm năm mươi triệu) đồng, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10%/năm; lãi suất đã điều chỉnh là 11.5%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Mục đích sử dụng tiền vay: bù đắp thanh toán tiền mua đất ở. Thời hạn vay 12 tháng.

Ngày 26/10/2022 Ngân hàng N và ông Cao Hữu P có ký hợp đồng tín dụng số 1603 – LAV – 202200984. Ông P vay số tiền là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10%/năm; lãi suất đã điều chỉnh là 11%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm.

Để đảm bảo 02 khoản vay trên ngày 24/10/2022 ông Cao Hữu P đã ký hai Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-202200835 và số 1603-LCP-202200836 với ngân hàng. Theo đó, thế chấp quyền sử dụng đất (thửa đất số 655, tờ bản đồ số 11) tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An do ông Cao Hữu P là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận số CL444407 (số vào sổ cấp GCN: CS09066) do Sở T1 cấp ngày 07/11/2017; Đăng ký giao dịch bảo đảm Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – chi nhánh huyện B ngày 25/10/2022 (sổ tiếp nhận hồ sơ số 7830 và số 7831).

Hiện nay ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P đều đã vi phạm cam kết trả nợ trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét giải quyết:

Buộc ông Châu Thành Đ thanh toán toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử là 1.220.330.566 (một tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng ba trăm ba mươi ngàn năm trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó tiền gốc là 1.050.000.000 ( một tỷ không trăm năm mươi triệu) đồng; tiền lãi trong hạn là 148.625.342 (một trăm bốn mươi tám triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn ba trăm bốn mươi hai) đồng; tiền lãi quá hạn là 18.032.192 (mười tám triệu không trăm ba mươi hai ngàn một trăm chín mươi hai) đồng; lãi chậm trả là 3.673.032 (ba triệu sáu trăm bảy mươi ba ngàn không trăm ba mươi hai) đồng.

Buộc ông Cao Hữu P thanh toán toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử là 2.336.693.188 (hai tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi ba ngàn một trăm tám mươi tám) đồng, trong đó tiền gốc là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng; tiền lãi trong hạn là 263.890.411 (hai trăm sáu mươi ba triệu tám trăm chín mươi ngàn bốn trăm mười một) đồng; tiền lãi quá hạn là 66.328.767 (sáu mươi sáu triệu ba trăm hai mươi tám ngàn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng; lãi chậm trả là 6.474.010 (sáu triệu bốn trăm bảy mươi bốn ngàn không trăm mười) đồng.

Trường hợp ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P không thanh toán hoặc trả nhưng không đầy đủ. Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên.

Bị đơn ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền nhưng vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm khoản 5, khoản 11 Điều 70 và khoản 2 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp được ký kết đúng theo quy định pháp luật nên có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ các Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200984 và số 1603-LAV-202200990 cũng như việc các bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu các bị đơn hoàn trả số tiền còn thiếu, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 5 Điều 9 Hợp đồng tín dụng và do Ngân hàng N Chi nhánh L1 có công văn đề nghị lựa chọn thẩm quyền giải quyết vụ án số 975/CV-NHNo.LTK-KTNB và số 977/CV-NHNo.LTK-KTNB, chọn Toà án nhân dân Quận 10 là nơi giải quyết, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng:

[3.1] Xét Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH T2, đăng ký lần đầu ngày 26/02/2004 và đăng ký thay đổi lần thứ 14 ngày 02/12/2022 do Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp có cơ sở xác định ông Phạm Toàn V là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng. Xét Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh M đăng ký lần

đầu ngày 20/3/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 28/12/2022 do Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Đ1 là đại diện theo pháp luật của chi nhánh. Xét Quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 về ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án và các Giấy ủy quyền tham gia tố tụng số 976/GUQ-NHNo.LTK-KTNB và số 978/GUQ-NHNo.LTK-KTNB ngày 22/6/2023 của Ngân hàng N – chi nhánh L1 là hợp lệ nên ông Phạm Văn C có đủ tư cách đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.

[3.2] Xét bị đơn ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[4] Xét hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng: Căn cứ Điều 51 Luật Tổ chức tín dụng quy định “ Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận. Xét các Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200984 và số 1603-LAV-202200990 đảm bảo đúng quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc các bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc theo các hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử phân tích như sau:

[5.1] Như phân tích tại phần [4] do hợp đồng tín dụng phát sinh hiệu lực pháp luật và căn cứ vào phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ có chữ ký và chữ viết của bên vay ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P có cơ sở xác định bên vay đã nhận đủ tiền vay theo hợp đồng.

[5.2] Căn cứ vào các bản tự khai và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa xác nhận các bị đơn vẫn chưa hoàn trả nợ gốc theo các Hợp đồng tín dụng. Nay nguyên đơn yêu cầu các bị đơn trả nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

[6] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc các bị đơn thanh toán các khoản tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử phân tích như sau:

[6.1] Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Theo quy định tại khoản 2

Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên Ngân hàng là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật.

[6.2] Căn cứ Điều 2 của hợp đồng tín dụng quy định về lãi suất cho vay, lãi chậm trả lãi, phí. Căn cứ vào phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 26/10/2022 thì bà ông Cao Hữu P phải trả nợ vào ngày 26/10/2022 và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 26/10/2022 thì ông Châu Thành Đ phải trả nợ vào ngày 26/10/2022.

[6.3] Căn cứ các thông báo ngày 03/01/2023 điều chỉnh lãi suất các hợp đồng tín dụng của các bị đơn tại ngân hàng có cơ sở xác định ngân hàng đã thực hiện thông báo điều chỉnh lãi theo đúng quy định. Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận buộc bị đơn thanh toán tiền lãi trong hạn của hợp đồng nêu trên.

[6.4] Căn cứ Thông báo điều chỉnh lãi suất các hợp đồng tín dụng của bị đơn và các quy định về mức lãi suất nên nội dung thỏa thuận của hai bên về lãi suất quá hạn được tính bằng 150% của lãi suất trong hạn là phù hợp nên được chấp nhận. Như phân tích tại phần [5] các bị đơn đều vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên có cơ sở xem xét yêu cầu của nguyên đơn về buộc các bị đơn thanh toán các khoản tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng. Cụ thể: Ông Châu Thành Đ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc tạm tính đến ngày xét xử là: Tiền nợ gốc: 1.050.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn: 148.625.342 đồng; Tiền lãi quá hạn: 18.032.192 đồng; Tiền lãi chậm trả: 3.673.032 đồng; Ông Cao Hữu P thanh toán toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử là: Tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn: 263.890.411 đồng; Tiền lãi quá hạn: 66.328.767 đồng; T lãi chậm trả: 6.474.010 đồng.

[7] Đối với yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp trong trường hợp các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Điều 4 Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 và đăng ký giao dịch đảm bảo. Căn cứ các Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1603-LCP-202200835, số công chứng: 9284, quyển số: 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/10/2022 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1603-LCP-202200836, số công chứng: 9283, quyển số: 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/10/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn L để thế chấp tài sản bảo đảm các khoản vay theo hợp đồng vay tín dụng là thửa đất số 655, tờ bản đồ số 11, địa chỉ xã N, huyện B, tỉnh Long An do ông Cao Hữu P làm chủ sở hữu và được đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định. Như vậy, đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thì Ngân hàng được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận. Do đó, trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì

nguyên đơn có quyền đề nghị phát mãi các tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ của bị đơn là có cơ sở chấp nhận.

[8] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điều 463, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

[1] Buộc ông Châu Thành Đ có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200990 ký ngày 26/10/2022 tính đến ngày 24/7/2024 là 1.050.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 148.625.342 đồng; tiền lãi quán hạn là 18.032.192 đồng; tiền lãi chậm trả là 3.673.032 đồng.

[2] Buộc ông Cao Hữu P có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1603 – LAV – 202200984 ký ngày 26/10/2022 tính đến ngày 24/7/2024 là 2.000.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 263.890.411 đồng; tiền lãi quá hạn là 66.328.767 đồng; tiền lãi chậm trả là 6.474.010 đồng.

[3] Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 24/7/2024 cho đến khi ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200990 và Hợp đồng tín dụng số 1603 - LAV – 202200984 ký ngày 26/10/2022.

Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

[4] Trong trường hợp ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là thửa đất số 655, tờ bản đồ số 11, địa chỉ xã N, huyện B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL444407 (số vào sổ cấp GCN: CS09066) do Sở T1 cấp ngày 07/11/2017; Đăng ký giao dịch bảo đảm Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – chi nhánh huyện B ngày 25/10/2022 (sổ tiếp nhận hồ sơ số 7830 và số 7831).

[5] Trường hợp ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N có trách nhiệm hoàn trả lại các bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CL444407 do Sở T1 cấp ngày 07/11/2017.

[6] Ông Châu Thành Đ và ông Cao Hữu P chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Mỗi người 5.000.000 (năm triệu) đồng.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm:

[7.1] Ông Châu Thành Đ chịu 48.609.916 (bốn mươi tám triệu sáu trăm lẻ chín ngàn chín trăm mười sáu) đồng.

[7.2] Ông Cao Hữu P chịu 78.733.864 (bảy mươi tám triệu bảy trăm ba mươi ba ngàn tám trăm sáu mươi bốn) đồng.

[7.3] H lại Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.320.668 (hai mươi hai triệu ba trăm hai mươi ngàn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng, theo biên lai thu tiền số 0035553 ngày 25/10/2023 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.560.548 (ba mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi ngàn năm trăm bốn mươi tám) đồng, theo biên lai thu tiền số 0035552 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 226/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger