Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 226/2024/HS-PT

Ngày: 23-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang.

Các Thẩm phán:

  1. Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
  2. Ông Ngô Ngọc Thắng

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 166/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Công T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Công T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: số A đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Công H và bà Trương Thị B; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: 1) Tại Bản án số 430/2013/HSST ngày 20/9/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" (chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2015 và nộp án phí ngày 27/11/2013); 2) Tại Bản án số 245/2015/HSST ngày 30/12/2015 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội "Cướp giật tài sản" (chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2018 và nộp án phí ngày 13/4/2016)Tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 23/12/2022 – Có mặt.

- Người bào chữa:

Ông Vũ Hữu Thiên  là luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo – Vắng mặt.

Bị hại

  1. Bà Đặng Tài T1, sinh năm 1964; trú tại: C B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
  2. Bà Văn Thị Ngọc B1, sinh năm 1980; trú tại: 1 H, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án xảy ra tại Quận D: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, T điều khiển xe máy Exciter màu đen, biển số: 15L1 – 008.19, từ nhà ở xã V, huyện B, đến Quận D, tìm xem có ai bán gà tre thì mua. Khi đi đến khu vực cầu D, thuộc Phường B, Quận D. T phát hiện bà Đặng Tài T1, đang đi bộ, trên người có đeo túi xách màu nâu có ghi chữ Gucci, nên nảy sinh ý định cướp giật túi xách của bà T1. T quay xe chạy vòng vào cầu D cũ vượt qua bà T1 khoảng 10 mét, rồi quay xe lại đứng đối diện trước nhà số B đường B, Phường B, Quận D, chờ bà T1 đi bộ đến. Khi bà T1 đi đến đối diện vị trí của T đang đứng, T chạy xe áp sát phía bên trái và dùng tay trái giật túi xách của bà T1 đang đeo, rồi tăng ga tẩu thoát. Khi đến bãi cỏ đối diện số 14 đường B, Chung cư H, xã B, huyện B. T dừng lại lục túi xách có 01 điện thoại OPPO A95 màu đen và 3.000.000 đồng tiền mặt. T lấy 3.000.000 đồng, còn điện thoại và túi xách, do sợ bị định vị nên T không lấy và bỏ lại bãi cỏ. Sau đó T cởi quần áo ném vào bãi cỏ cùng chiếc nón bảo hiểm màu đen và đôi dép kẹp màu đen, tại trước nhà số A đường B, Chung cư H, xã B, huyện B. Bà T1 sau khi bị cướp giật đã đến Công an P, Quận D trình báo vụ việc.

Kết luận định giá tài sản số 04/KL – HĐĐGTTHS ngày 18/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - U kết luận: 01 túi xách có ghi chữ Gucci, đã qua sử dụng, không xác định được giá trị; 01 điện thoại hiệu Oppo A95, màu đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.200.000 đồng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, bà Đặng Tài T1 trình bày tài sản bị cướp giật gồm: 01 túi xách có ghi chữ Gucci bên trong có 01 điện thoại hiệu Oppo A95, màu đen và số tiền 50.000.000 đồng (không chứng minh được nguồn gốc).

Vụ án xảy ra tại Quận G: Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27/11/2022, Huỳnh Công T điều khiển xe máy hiệu Exciter, màu đen, biển số: 15L1 – 008.19, từ huyện B qua Quận G, tìm tài sản sơ hở để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến trước địa chỉ nhà số A N, phường T, Quận G, T phát hiện chị Văn Thị Ngọc B1 đang đi bộ qua đường, trên người có mang theo 01 túi xách. T quay xe, chạy sát chị B1, giật túi xách rồi tăng ga tẩu thoát trên đường D ra đường N hướng về huyện B. Lúc này có anh Phạm Trọng N (sinh năm: 1989; Nơi thường trú: 272/2 lầu B, đường T, Phường H, Quận E; Nơi ở hiện nay: 265 đường I, khu dân cư T, xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh) đang điều khiển xe máy lưu thông trên đường D1 phát hiện, truy đuổi theo, nhưng không kịp. T tiếp tục điều khiển xe máy trên, đến đoạn đường vắng trên đường N, T dừng xe lại và kiểm tra bên trong túi xách có 01 điện thoại di động hiệu S 8, một số giấy tờ và tiền mặt 700.000 đồng. Lúc này, T lấy tất cả tiền mặt có trong túi, còn giấy tờ, điện thoại, sợ cài định vị phát hiện nên T không lấy và ném túi xách tại bãi cỏ bên đường N, bỏ đi. Bị cướp giật tài sản, chị Văn Thị Ngọc B1 đến công an phường T, Quận G trình báo sự việc.

Ngày 19/12/2022, Tổ hình sự đặc nhiệm – Đội CSHS – Công an Q1 đã tiến hành truy xét, xác định Huỳnh Công T là đối tượng sử dụng xe máy hiệu Exciter màu đen, biển số: 15L – 008.19, thực hiện hành vi cướp giật 01 túi xách của chị Văn Thị Ngọc B1, vào ngày 27/11/2022 tại trước nhà số A N, phường T, Quận G, nên đưa về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1, Huỳnh Công T khai nhận hành vi phạm tội.

Kết luận định giá tài sản số 484/KL – HĐĐGTTHS ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - U1 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu S 8 có giá trị 1.400.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 12-4-2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo Huỳnh Công T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Công T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết phần dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/4/2024, bị cáo Huỳnh Công T có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh “Cướp giật tài sản”.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Công T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên. Bị cáo khai không thực hiện hành vi cướp giật tài sản của 02 bị hại Đặng Tài T1 và Văn Thị Bảo N1, người đàn ông được trích xuất từ hình ảnh của camera an ninh không phải là bị cáo, bị cáo thừa nhận các chữ ký tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai ban đầu là của bị cáo nhưng nội dung là bị ép buộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, mức hình phạt là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Huỳnh Công T tự bào chữa: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản ảnh trích xuất từ dữ liệu camera an ninh không phải là bị cáo, ngoài những lời khai nhận tội của bị cáo do bị ép buộc thì không còn chứng cứ nào khác để kết tội bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét bị cáo bị oan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Công T về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận G, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 7, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa phúc thẩm. bị cáo khai nại việc bị điều tra viên Cơ quan điều tra cấp sơ thẩm ép cung, nhục hình nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời khai nại của mình là có cơ sở. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Vũ Hữu Thiên  là người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa và đề nghị được thực hiện quyền tự bào chữa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án, xét kháng cáo của bị cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Căn cứ lời khai của bị cáo Huỳnh Công T tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:

[4.1] Huỳnh Công T đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của các bị hại là nữ giới để điều khiển xe gắn máy biển số 15L1-008.19, chạy áp sát các bị hại, thực hiện hành vi cướp giật túi xách của bị hại sau đó điều khiển xe tăng ga tẩu thoát cùng tài sản. Theo đó, vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, tại khu vực cầu D, Phường B, Quận D, T chiếm đoạt của bị hại Đặng Tài T1 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Oppo A95, màu đen đã qua sử dụng, trị giá 3.200.000 đồng và số tiền mặt 3.000.000 đồng. Ngoài ra, vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27/11/2022, tại trước nhà số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, T chiếm đoạt của bị hại Văn Thị Bảo N1 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 8, đã qua sử dụng trị giá 1.400.000 đồng và số tiền mặt 700.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 8.300.000 đồng.

[4.2] Mặc dù quá trình xét xử sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Huỳnh Công T không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, thể hiện tại các biên bản ghi lời khai (bút lục 138-139 và bút lục 152), biên bản hỏi cung (từ bút lục 140 đến 145), bản tự khai ngày 06/4/2023 (bút lục 135) là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với nội dung kết luận định giá tài sản, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản nhận dạng, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật tài liệu (xe gắn máy biển số 15L1-008.19), dữ liệu trích xuất từ camera an ninh (có xác nhận của bị cáo tại các bút lục từ 51 đến 70 và từ 72 đến 76) biên bản thực nghiệm điều tra đã có đủ căn cứ xác định bị cáo Huỳnh Công T là người điều khiển xe gắn máy biển số 15L1-008.19, thực hiện hành vi cướp giật tài sản thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” như đã nêu trên.

[4.3] Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 12-4-2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4.4] Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời, Hội đồng xét xử phúc thẩm, xét bị cáo là người có nhân thân xấu, từng 02 lần bị kết án về tội “Cướp giật tài sản”, quá trình xét sử sơ thẩm, phúc thẩm thể hiện thái độ không thành khẩn, quanh có, chối tội nên cần mức hình phạt nghiêm như cấp sơ thẩm đã tuyên mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4.5] Từ những lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử xét không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Công T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công T 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - VKSND Quận 7; (2)
  • - P.V06 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Trại tạm giam; (2)
  • - Đương sự; (2)
  • - THADS Quận 7; (1)
  • - TAND Quận 7; (2)
  • - Công an Quận 7; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 226/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Công T bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger