|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 229/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2025. “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Hạnh.
Bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 170/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 04 năm 2025, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh Q, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1982;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Vương Quốc A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị Quỳnh Q, trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn M được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố H vào ngày 18/01/2017. Quá trình chung sống chị và anh M xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, luôn có tính cách trái ngược nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Năm 2018 thì anh M đi lao động tại Hàn Quốc. Từ đó đến nay chị và anh M không còn thường xuyên liên lạc, không còn quan tâm, hỏi han lẫn nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M để ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh chị không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị Q không cung cấp được địa chỉ của anh M tại Hàn Quốc nên Tòa án đã xác minh qua gia đình anh M, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của anh M tại Hàn Quốc, chị Phạm Thị H (chị gái anh Phạm Văn M) trình bày: Chị không biết địa chỉ của anh M ở Hàn Quốc nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên, anh M vẫn thường xuyên liên hệ về gia đình qua điện thoại. Chị đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh M biết. Quan điểm của anh M là đồng ý ly hôn với chị Q.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh M vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Nguyễn Thị Quỳnh Q được ly hôn anh Phạm Văn M; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh Q có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Phạm Văn M. Anh M hiện đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2]. Quá trình giải quyết vụ án, chị Q không cung cấp được địa chỉ của anh M tại Hàn Quốc. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị Q và gia đình anh M cung cấp địa chỉ, nhưng chị Q và gia đình anh M không cung cấp được. Chị Phạm Thị H (chị gái anh Phạm Văn M) xác định anh M vẫn thường xuyên liên lạc với chị, chị đã thông báo về việc chị Q có đơn xin ly hôn, anh M không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3]. Tại phiên tòa, chị Q, chị H vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn anh M đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Quỳnh Q và anh Phạm Văn M được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố H vào ngày 18/01/2017 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống từ sau khi kết hôn, chị Q và anh M xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, luôn có tính cách trái ngược nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Năm 2018, anh M đi lao động tại Hàn Quốc, từ đó đến nay chị Q và anh M không còn thường xuyên liên lạc, không còn quan tâm, hỏi han lẫn nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị Q, anh M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần chấp nhận cho chị Q được ly hôn anh M là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh M không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Quỳnh Q được ly hôn với anh Phạm Văn M.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Quỳnh Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001763 ngày 02/04/2025.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Quỳnh Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Phạm Văn M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 229/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 229/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
