|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 226/2024/HS-PT Ngày: 11/12/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.
Bà Phạm Thị Minh Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 11/12/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 257/TLPT-HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo Huỳnh Minh T và Trần Đức M do có kháng cáo của bị hại anh Trần Văn Q đối với bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HSST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
*Các bị cáo bị kháng cáo:
- Họ và tên: Huỳnh Minh T, sinh năm 2003 tại thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký thường trú: Tổ G, ấp N, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thành P và bà Danh Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Trần Đức M, sinh năm 2000 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 22/4/2024 đến ngày 25/4/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện bị cáo tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)
*Người kháng cáo: bị hại anh Trần Văn Q, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (có mặt tại phiên tòa)
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, Luật sư Công ty L; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường P, quận N, thành phố Hà Nội. (có mặt tại phiên tòa)
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Chu Trọng H1, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên tòa)
*Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (có mặt tại phiên tòa)
- - Ông Trần Quang H2, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 21/4/2024, anh Trần Văn Q điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Veloz Cross màu tím bạc, biển kiểm soát (BKS) 89A-397.37 chở anh Nguyễn Văn S đến nhà nghỉ P1 ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang để thuê phòng nghỉ qua đêm. Huỳnh Minh T là nhân viên nhà nghỉ thấy có 02 người nên giao phòng đơn 402 và thu 200.000 đồng tiền phòng. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/4/2024, anh Trần Quang H2 (là bạn của anh Q, anh S) đi đến nhà nghỉ P1 thì gặp T đang đứng ở quầy lễ tân, anh H2 bảo Tồn cho lên phòng 402 để nghỉ qua đêm cùng với anh Q, anh S nhưng T không đồng ý. Anh H2 gọi điện cho anh Q xuống quầy lễ tân, T bảo anh Q là “chủ nhà nghỉ không cho 03 người ở cùng 01 phòng đơn, nếu 03 anh muốn ở cùng nhau thì đổi sang phòng đôi với giá 300.000 đồng/ 01 đêm”. Anh Q, anh H2 đồng ý đổi sang phòng đôi và trả thêm 100.000 đồng tiền phòng. Lúc này, anh H2 không hài lòng nên đã có lời nói xúc phạm T nhưng T không bảo gì. Sau đó, T đã sắp xếp cho anh Q, anh S, anh H2 chuyển sang phòng khác. Do điều hoà trong phòng không hoạt động nên anh Q xuống quầy lễ tân hỏi T và được T giải thích “do sự cố nên nhà nghỉ cắt điều hoà, các anh thông cảm ở tạm, nếu không ở được thì em trả lại tiền, các anh sang nhà nghỉ khác thuê phòng có điều hoà”. Sau đó anh Q, anh H2, anh S không thuê phòng nữa và nhận lại 300.000 đồng. Do bức xúc nên anh H2 chửi T, T bảo “các anh thông cảm vì sự cố nên nhà nghỉ không có điều hoà, em cũng đã trả lại tiền các anh rồi, có gì các anh sang nhà khác nghỉ”. Bị anh H2 chửi nên T bức xúc, gọi điện thoại cho Trần Đức M nói “bên này em có việc rồi, anh qua đón em để đi giải quyết”, M đồng ý. Khi anh Q điều khiển xe ô tô vừa rời khỏi nhà nghỉ thì M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc BKS 98N6-5731 đi đến nhà nghỉ P1, T vào nhà nghỉ lấy ra 02 gậy tuýp sắt đều có một đầu nhọn cầm ra chỗ M rồi T kể cho M nghe việc bị nhóm của anh Q chửi, xúc phạm; T bảo M đuổi theo chặn xe ô tô để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó M điều khiển xe mô tô, còn T ngồi sau cầm 02 gậy tuýp sắt đuổi theo xe ô tô BKS 89A-397.37 theo đường Q hướng thị trấn Đ, huyện L, đuổi khoảng 02 km đến địa phận tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L thì kịp. M điều khiển xe mô tô áp sát sườn bên phải xe ô tô của anh Q, T vẫy tay ra hiệu dừng xe lại nhưng anh Q không dừng. Thấy xe ô tô của anh Q không dừng, T cầm 01 gậy tuýp sắt ở tay trái đâm vào cánh cửa trước bên phải xe ô tô BKS 89A-397.37. Sau đó, M điều khiển xe mô tô vượt lên một đoạn rồi dừng xe ở rìa đường bên phải theo chiều đi. Tồn đưa cho M 01 gậy tuýp sắt rồi cả hai đứng ở giữa đường chặn xe ô tô BKS 89A-397.37; Tồn, M vẫy tay ra hiệu cho xe dừng lại nhưng anh Q không dừng mà đi chậm để lách qua thì va chạm làm đổ xe mô tô 98N6- 5731. Thấy vậy, anh Q điều khiển xe ô tô lùi lại để tránh và tiếp tục điều khiển xe ô tô đi lên phía trước. Lúc này T đang đứng ở phía trước xe ô tô, cách khoảng 05m, T cầm gậy tuýp sắt ở tay phải phi thẳng vào kính chắn gió phía trước xe ô tô BKS 89A-397.37, đầu nhọn gậy tuýp sắt đâm thủng kính chắn gió và cắm ở kính xe ô tô. Anh Q đỗ xe lại cùng anh H2, anh S xuống xe, anh Q rút gậy tuýp sắt cắm trên kính ô tô ra đuổi đánh lại nên T, M bỏ lại xe mô tô 98N6- 5731 tại hiện trường rồi bỏ chạy bộ về nhà nghỉ P1; trên đường bỏ chạy, M đã vứt chiếc gậy tuýp sắt đi nhưng không nhớ vứt ở đoạn nào. Sau khi M, T đã bỏ chạy, nhóm anh Q gọi điện đến Công an huyện L trình báo sự việc. Đến chiều ngày 22/4/2024, Huỳnh Minh T và Trần Đức M đến Công an huyện L đầu thú.
Khám nghiệm hiện trường xác định vụ việc xảy ra tại đường Q thuộc địa phận tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại hiện trường phát hiện và thu giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Veloz Cross, màu tím bạc, BKS 89A-397.37 bị hư hỏng một số bộ phận; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 98N6-5731 đang đổ ở rìa đường; 01 thanh kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 159,5 cm, đường kính 2,7cm (gậy tuýp sắt). Mở rộng hiện trường phát hiện, thu giữ: 01 bật lửa màu đỏ có kích thước (8x2) cm; 01 viên sỏi có kích thước (4,5x4 x2) cm; 01 đôi dép màu đen có dòng chữ “LOUIS VUITON” có kích thước giống nhau (26,5x10,5) cm.
Khám phương tiện xe ô tô Toyota Veloz Cross màu tím bạc, BKS 89A-397.37 xác định: Mặt trên lắp ca pô có vùng dấu vết trượt xước kích thước (50 x 50)cm; trên kính chắn gió phía trước có vùng rạn nứt, vỡ kích thước (1,3 x 0,85)m, tâm vết kích thước (05 x 03)cm, rách thủng kính chiều hướng từ ngoài vào trong; mặt ngoài bậc lên xuống phía trước bên phải có vết móp méo kích thước (3,5 x 2)cm, chiều hướng lực tác động từ phải qua trái; mặt trên táp lô tại khu vực đặt màn hình có dấu vết trượt xước kích thước (10 x 2,5)cm, chiều hướng từ trước về sau; màn hình đặt trên khu vực táp lô kích thước (25 x 12)cm bị nứt vỡ hoàn toàn, bung bật khỏi vị trí cố định; mặt trên ghế trước bên phải, mặt táp lô có các mảnh kính vỡ.
Ngày 24/4/2024, Cơ quan điều tra ra văn bản yêu cầu định giá tài sản đối với những thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Veloz Cross màu tím bạc, BKS 89A-397.37.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 25/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Tổng giá trị tài sản thiệt hại do bị hư hỏng của xe ô tô Toyota Veloz Cross màu tím bạc, BKS 89A-397.37 là 77.150.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngày 27/4/2024, Cơ quan điều tra cho Huỳnh Minh T nhận dạng, xác định vật chứng, kết quả: Tồn xác định thanh kim loại thu giữ khi khám nghiệm hiện trường là thanh kim loại mà T sử dụng để làm hư hỏng chiếc xe ô tô BKS 89A-397.37.
Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Huỳnh Minh Tồn, Trần Đức M về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HSST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
*Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/4/2024).
- Xử phạt bị cáo Trần Đức M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 22/4/2024 đến ngày 25/4/2024).
*Về trách nhiệm dân sự:
3. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 và 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc các bị cáo Huỳnh Minh T, Trần Đức M phải liên đới bồi thường cho ông Trần Văn Q số tiền 77.150.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó:
- - Huỳnh Minh T phải bồi thường = 46.290.000 đồng (Bốn sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng);
- - Trần Đức M phải bồi thường = 30.860.000 đồng (Ba mươi triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
*Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 13/9/2024 bị hại anh Trần Văn Q kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Tòa án nhân dân huyện Lục Nam tuyên mức hình phạt cho các bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Trần Đức M chưa phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của 02 bị cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt và áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự cho 02 bị cáo.
*Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Bị cáo T trình bày: án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo không có kháng cáo, bị cáo không đồng ý với kháng cáo của bị hại, do nhóm của bị hại có lời lẽ xúc phạm bị cáo trước. Bị cáo không hiểu biết đã gây hư hỏng tài sản của anh Q.
- - Bị cáo M trình bày: Án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo thấy T gọi thì bị cáo đến xem như thế nào. Do bị cáo không hiểu biết, đề nghị bị hại và Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo. Về bồi thường bị cáo sẽ cố gắng lao động để bồi thường cho bị hại.
- - Bị hại Quyền vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết phạm tội côn đồ quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo chưa ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung. Các bị cáo trình bày anh lái xe đâm thẳng xe vào các bị cáo anh không đồng ý.
*Tại phiên toà phúc thẩm, người làm chứng trình bày:
- - Ông H2 trình bày: ông không chửi bới gì đối với T, chỉ nói là “làm ăn thế thì mất khách”, ông cũng ngồi trên xe nên không có việc anh Q lao thẳng xe vào các bị cáo như các bị cáo khai.
- - Ông Nguyễn Văn S trình bày: ông nhất trí với trình bày của ông H2, không có việc anh Q lao xe vào các bị cáo, các bị cáo khai là không đúng.
- - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lục Nam.
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại luật sư Nguyễn Văn Đ trình bày: anh Q kháng cáo đề nghị tăng trách hiệm hình sự đối với các bị cáo. Khi có mâu thuẫn rất nhỏ, sự việc đã dừng lại ở nhà nghỉ nhưng bị cáo T gọi bị cáo M đuổi theo xe ô tô ngay trong đêm tối là rất nguy hiểm. Quan điểm của luật sư cần phải xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội côn đồ. Các bị cáo không ăn năn hối cải, chưa thể hiện ý thức thành khẩn khai báo, suốt quá trình giải quyết vụ án các bị cáo không hề có ý thức bồi thường cho bị hại, thái độ rất coi thường pháp luật, để các bị cáo ở ngoài thì gây nguy hiểm cho xã hội.
* Viện kiểm sát đối đáp: Luật sư cho rằng phải áp dụng tình tiết tăng nặng là côn đồ đối với các bị cáo, nhưng do bị cáo T có sự bức xúc đối với việc ứng xử của anh H2 là người trong nhóm anh Q, do nhận thức của bị cáo cần phải giải quyết nên đã có cư xử không phù hợp nên đã bị đưa ra xét xử, với mức hình phạt tương xứng là hình phạt tù giam. Mức hình phạt của các bị cáo trong khung từ 2-7 năm, án sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với hành vi, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Bị cáo T nói lời sau cùng: do không hiểu biết nên bị cáo phạm tội, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo M nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử và bị hại cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:Đơn kháng cáo của bị hại anh Trần Văn Q nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Sau khi xem xét lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc các anh Trần Văn Q, Nguyễn Văn S, Trần Quang H2 trả phòng nghỉ do không có điều hòa và việc anh H2 có lời nói, chửi tục nên bị cáo Huỳnh Minh T bức xúc. Khoảng 01 giờ ngày 22/4/2024 anh Q lái xe ô tô nhãn hiệu Toyota Veloz Cross màu tím bạc, BKS 89A-397.37 đi khỏi nhà nghỉ P1 thì bị cáo T rủ bị cáo Trần Đức M đuổi theo để giải quyết mâu thuẫn. Khi đuổi kịp, T dùng thanh kim loại chọc vào nhiều vị trí bên ngoài xe ô tô, sau đó cầm thanh kim loại phi đầu nhọn vào kính chắn gió phía trước xe ô tô làm thủng kính, màn hình khu vực taplo bên trong xe ô tô bị nứt vỡ hoàn toàn, bung bật khỏi vị trí ban đầu. Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, kết quả định giá tài sản xác định xe ô tô Toyota Veloz Cross màu tím bạc, BKS 89A-397.37 bị hư hỏng do hành vi của các bị cáo Huỳnh Minh T, Trần Đức M gây ra phải thay thế, sửa chữa, thiệt hại là 77.150.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Huỳnh Minh T và Trần Đức M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Do đó bản án sơ thẩm số 94/2024/HSST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3]. Xét kháng cáo của bị hại anh Trần Văn Q, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [3.1]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo T là người chủ động rủ rê, khởi xướng, chuẩn bị công cụ phạm tội và trực tiếp thực hành bằng cách dùng gậy kim loại đâm, chọc làm hư hỏng nhiều bộ phận xe ô tô của anh Trần Văn Q. Bị cáo M là người tiếp nhận ý chí của T, trực tiếp điều khiển xe mô tô chở T đuổi theo xe ô tô của anh Q, áp sát, chặn đầu để T dùng gậy kim loại đâm, chọc làm hư hỏng xe ô tô của anh Q. Hành vi trên của các bị cáo Huỳnh Minh T, Trần Đức M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với tội phạm này.
- [3.2]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Xét về nhân thân: bị cáo T và bị cáo M đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo T và bị cáo M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đều ra đầu thú; đây là các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.
Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm bị hại không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới để chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình.
[3.3] Về kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt của bị hai Quyền đối với bị cáo T và bị cáo M:
Toà cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo xét xử bị cáo T 03 năm tù, bị cáo M 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ, tại cấp phúc thẩm bị hại không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới nên không có căn cứ tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo.
[3.4] Về kháng cáo đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T và bị cáo M:
Bị cáo T và bị cáo M không có kinh tế, tài sản riêng, phạm tội không có mục đích thu lời bất chính; hành vi phạm tội của các bị cáo không liên quan đến chức vụ, nghề nghiệp hoặc công việc nhất định. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3.5]. Từ những phân tích nêu trên, HĐXX vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị hại là anh Trần Văn Q.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị hại không được chấp nhận, nên bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Văn Q.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/4/2024).
- - Xử phạt bị cáo Trần Đức M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 22/4/2024 đến ngày 25/4/2024).
- Án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị hại Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
Bản án số 226/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Số bản án: 226/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Văn Q. 2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: - Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/4/2024). - Xử phạt bị cáo Trần Đức M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 22/4/2024 đến ngày 25/4/2024).
