Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng;

Bà Trần Thị Mộng Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 230/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Quang H, sinh năm 1993 tại Bình Phước; thường trú: Tổ C, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1954; vợ tên Trần Thị Hiếu T2, sinh năm 1991, có hai con sinh năm 2018 và năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 26/3/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Đậu Thị Q, sinh năm 1996; thường trú: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; chổ ở hiện nay: Tổ A, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Nguyên đơn dân sự:

1. Ông Cao Sỹ Q1 – Chủ hộ kinh doanh điện thoại di động Hải Đăng; địa chỉ: thửa đất số 126 tờ bản đồ số 27, đường K, tổ A, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Đậu Thị Q, sinh năm 1996; chổ ở hiện nay: Tổ A, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Ngọc T3 – Chủ hộ kinh doanh Cầm đồ H3; địa chỉ: Số F đường D khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

3. Ông Phan Minh H1 – Chủ hộ kinh doanh Cầm đồ T5; địa chỉ: K, 3 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Huỳnh Ngọc S, sinh năm 1983; địa chỉ: K, số C khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Ông Đặng Văn H2, sinh năm 1993; địa chỉ: khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Quang H là đối tượng không có nghề nghiệp và sống lang thang trên địa bàn thành phố T và thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định đi đến các tiệm điện thoại để giả vờ hỏi mua điện thoại, sau đó cướp giật mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 18/03/2024, H điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu xanh biển số 70H2-1739 đi đến cửa hàng Đ thuộc khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lúc này, có bà Đậu Thị Q đang trong coi cửa hàng. H yêu cầu bà Q lấy cho H xem điện thoại có cấu hình cao chơi game được thì bà Q lấy 01 điện thoại Samsung A12 màu trắng và 01 điện thoại Samsung A04S màu xanh đen đưa cho H xem. H hỏi bà Q nếu mua thì có được tặng ốp lưng điện thoại không thì bà Q trả lời có và cúi xuống tìm ốp lưng điện thoại, ngay lập tức H cầm 02 điện thoại bỏ vào túi quần, chạy ra xe khởi động máy bỏ chạy về hướng đường ĐT 746.

Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, H đến tiệm C thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương cầm điện thoại Samsung A04S màu xanh đen cho ông Huỳnh Ngọc S được 1.200.000 đồng. Sau đó H tiếp tục đến tiệm H3 cầm điện thoại Samsung A12 màu trắng cho ông Đặng Văn H2 được 1.000.000 đồng. Số tiền 2.200.000 đồng cầm điện thoại có được H đã tiêu xài hết.

Sau khi bị H cướp giật 02 điện thoại, ngày 26/03/2024, bà Q đến Công an phường K trình báo sự việc. Tiếp nhận tin báo, Công an phường tiến hành trích xuất camera tại tiệm Đ1 ghi nhận hình ảnh của H. Đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường K tuần tra trên tuyến đường ĐT 747 thuộc khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện H đang điều khiển xe mô tô biển số 70H2-1739 trên đường Đ hướng từ phường U về ngã ba cây số 18 nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra và đưa H về trụ sở Công an làm việc. Tại Cơ quan Công an, H đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt 02 điện thoại của bà Q vào ngày 18/3/2024. Công an phường K đã lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T để thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng tạm giữ:

  • - 01 điện thoại Samsung A12 màu trắng;
  • - 01 điện thoại Samsung A04S màu xanh đen;
  • - 01 xe mô tô biển số 70H2-1739, số máy 130358, số khung 130358;

Tại bản kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 điện thoại Samsung A12 màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị là 2.000.000 đồng; 01 điện thoại Samsung A04S màu xanh đen, đã qua sử dụng có giá trị là 2.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng).

Xe mô tô biển số 70H2-1739, số máy 130358, số khung 130358 H đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội ngày 18/3/2024, H khai nhận mua lại xe mô tô này của một người không rõ nhân thân lai lịch, khi mua không có giấy tờ xe. Qua tra cứu biển số 70H2-1739 là của xe mô tô nhãn hiệu WAYTHAI, loại HA110-S, màu sơn xanh, số khung NJ110200071650, số máy LC152FMH00453880 do ông Đặng Văn T4, sinh năm: 1974, nơi thường trú: Xóm B, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh đứng tên chủ sở hữu, qua xác minh ông T4 hiện không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Đối với xe mô tô có số máy 130358, số khung 130358 qua tra cứu là của xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại 109, màu sơn đen có biển số 88F1-3354 do ông Nguyễn Đăng D, địa chỉ: xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, ông D không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả.

Đối với điện thoại Samsung A12 màu trắng và điện thoại Samsung A04S màu xanh đen là tài sản của bà Đậu Thị Q bị H chiếm đoạt vào ngày 18/3/2024. Ngày 01/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Q.

Về vấn đề dân sự: Bị hại Đậu Thị Q đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì. Ông Huỳnh Ngọc SĐặng Văn H2 không yêu cầu bị cáo Trần Quang H trả lại số tiền đã cầm cố điện thoại Samsung A12 màu trắng và điện thoại Samsung A04S màu xanh đen.

Bản Cáo trạng số 238/CT-VKSTU ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước xe môtô biển số 70H2-1739. Buộc bị cáo phải nộp số tiền 2.200.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng gồm bị hại; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quá trình điều tra, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên. Xét thấy, việc vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người này.
  3. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quang H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như vật chứng thu giữ, hình ảnh được trích xuất, lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

    Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 18/3/2024, tại tiệm Đ1 thuộc khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Quang H có hành vi giả vờ hỏi mua điện thoại rồi nhanh chóng chiếm đoạt 01 điện thoại Samsung A12 màu trắng và 01 điện thoại Samsung A04S màu xanh đen của bà Đậu Thị Q; 02 điện thoại bị chiếm đoạt có trị giá 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng).

    Do đó, hành vi của bị cáo Trần Quang H đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

  4. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  5. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quang H là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo ra dư luận bất an trong nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm hành vi này mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
  6. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo có cha có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  8. Hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
  9. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Đối với xe mô tô biển số 70H2-1739, số máy 130358, số khung 130358 do bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo khai nhận mua lại xe mô tô này của một người không rõ nhân thân lai lịch, khi mua không có giấy tờ xe. Qua tra cứu biển số 70H2-1739 là của xe mô tô nhãn hiệu WAYTHAI, loại HA110-S, màu sơn xanh, số khung NJ110200071650, số máy LC152FMH00453880 do ông Đặng Văn T4, sinh năm: 1974, nơi thường trú: Xóm B, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh đứng tên chủ sở hữu, qua xác minh ông T4 hiện không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Đối với xe mô tô có số máy 130358, số khung 130358 qua tra cứu là của xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại 109, màu sơn đen có biển số 88F1-3354 do ông Nguyễn Đăng D. Xét thấy, bị cáo sử dụng xe này là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội và xe không rõ nguồn gốc. Tài sản còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

    Đối với số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc cầm cố 02 điện thoại di động do cướp giật mà có là 2.200.000 đồng cần buộc bị cáo phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.

  10. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường vấn đề gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  11. Đối với hành vi của ông Huỳnh Ngọc S và ông Đặng Văn H2 đã nhận cầm cố điện thoại của bị cáo, quá trình điều tra xác định ông S và ông H2 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.
  12. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang H phạm tội “Cướp giật tài sản”
  2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Trần Quang H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024.

  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước xe mô tô biển số 70H2-1739, số máy 130358, số khung 130358.

    (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên)

    Buộc bị cáo Trần Quang H phải nộp số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

  4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Quang H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương;

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- PV06, Công an tỉnh Bình Dương;

- VKSND thành phố Tân Uyên;

- Công an thành phố Tân Uyên;

- Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;

- Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thành Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/TLST-HS ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 230/2024/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Hậu phạm tội “Cướp giật tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger