Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, TP . HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Minh Tuấn - Bí thư Đoàn phường Xuân Đỉnh.

2. Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm: Bà Bùi Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 16/9/2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý 207/2024/HSST, ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên:

Nguyễn Chí B, Sinh năm 2000. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Nơi TT: số A ngõ BB, phường B, H, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Ông Nguyễn Hữu H, Sinh năm 1967, mẹ đẻ: Bà Trần Thị T, Sinh năm 1969. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 07/5/2024, tạm giữ tạm giam đến nay tại Trại tạm giam số I - Công an H5 – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Cháu Nguyễn Yến H1, Sinh ngày 21/9/2008.

Nơi cư trú: Tổ dân phố số C, phường C quận N, thành phố Hà Nội

Nơi ở: Tòa nhà MÐ, Số H, L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội – Có mặt

Đại diện hợp pháp của cháu H1: Anh Nguyễn Kiều H2 (Bố đẻ) – có mặt.

1

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị H3 – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Chí B và cháu Nguyễn Yến H1, SN 21/9/2008 quen biết qua mạng xã hội facebook, nảy sinh quan hệ yêu đương nam nữ từ khoảng tháng 6/2023. Từ ngày 13/6/2023 đến ngày 21/6/2023, B và cháu H1 đã nhiều lần thuê nhà nghỉ tại các địa điểm khác nhau để quan hệ tình dục, dẫn tới cháu H1 có thai và sinh con, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 14h30' ngày 13/6/2023, Nguyễn Chí B điều khiển xe máy Honda Vision màu xám, BKS: 29D2- 754.xx đến Công viên T, địa chỉ đường L, phường P, Đ, Hà Nội đón H1 và đưa đến Nhà nghỉ Cuối Tuần, địa chỉ số B, ngõ A L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội thuê phòng và quan hệ tình dục với H1. Quá trình quan hệ tình dục, B không sử dụng bao cao su. Khi đang quan hệ tình dục, do anh Nguyễn Kiều H2 - bố của H1 gọi điện cho B để tìm H1 nên B và H1 không quan hệ tình dục nữa. Khi trả phòng, B sử dụng tài khoản số 9173219xx mang tên Nguyễn Chí B, ngân hàng V chuyển khoản cho chị Lê Thị T1 là chủ Nhà nghỉ Cuối tuần số tiền 100.000 đồng vào số tài khoản 1029805568 của chị T1 mở tại ngân hàng V để thanh toán tiền phòng.

Lần thứ hai: Ngày 17/6/2023, B điều khiển xe máy đón cháu H1 đi đến Phố N, T, S, Hà Nội thuê Nhà nghỉ M, địa chỉ B Phố N, T, S, Hà Nội thuê phòng và quan hệ tình dục với nhau. Quá trình quan hệ tình dục B sử dụng bao cao su. Khi ra về, B sử dụng tài khoản số 9173219999 mang tên Nguyễn Chí B chuyển khoản cho chị Nguyễn Thị X là người quản lý Nhà nghỉ M số tiền 100.000 đồng vào số tài khoản 109871361351 của chị X mở tại ngân hàng V1 để thanh toán tiền phòng.

Lần thứ ba: Ngày 21/06/2023, B điều khiển xe máy đến đón cháu H1 ở Tòa CT9, khu đô thị Đ, H, Hà Nội rồi đưa đến Nhà nghỉ H6, phường P, B, Hà Nội thuê phòng và quan hệ tình dục với nhau. Quá trình quan hệ tình dục B có sử dụng bao cao su nhưng sau khi xuất tinh và tháo bao cao su, B vẫn tiếp tục quan hệ tình dục với H1. Khi ra về, B sử dụng tài khoản số 9173219999 mang tên Nguyễn Chí B chuyển khoản số tiền 200.000 đồng vào tài khoản số 0965252292 mang tên Nguyễn Đình Đ mở tại ngân hàng MB theo sự hướng dẫn của nhân viên nhà nghỉ H6 để thanh toán tiền phòng. Khoảng tháng 07/2023, H1 gọi điện cho B thông báo việc có thai. Sau khi được thông báo, B

2

cho rằng khi quan hệ tình dục với H1 đều sử dụng bao cao su nên không thừa nhận là con mình. Ngày 09/03/2024, H1 đã sinh cháu Nguyễn Đức T2 tại Bệnh viện B1. Sau khi gia đình H1 và B không thỏa thuận được việc bồi thường, ngày 06/5/2024, anh Nguyễn Kiều H2 đã đưa cháu H1 đến cơ quan điều tra để trình báo nội dung sự việc. (BL33-37, 39-40, 44-57, 59-85, 95-106, 107-109, 110-119, 120-124, 139-140, 144-146, 148-151)

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Chí B đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và khai: các lần quan hệ B và cháu H1 đều tự nguyện, không có sự ép buộc. (BL95-106)

Tại cơ quan điều tra, cháu Nguyễn Yến H1 khai sự việc như trên và khai: các lần quan hệ B và cháu H1 đều tự nguyện, không có sự ép buộc, cháu chỉ quan hệ tình dục với B, ngoài ra không quan hệ với ai khác. (BL110-119) Căn cứ lời khai của bị hại, lời khai nhận tội của Nguyễn Chí B phù hợp với biên bản dẫn giải chỉ địa điểm (nhà nghỉ), biên bản kiểm tra sổ đăng ký lưu trú; sao kê tài khoản ngân hàng B trả tiền nhà nghỉ, kết luận giám định ADNA của B với cháu Nguyễn Đức T2 (SN 09/3/2024), ngày 07/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp với B.

Vật chứng: Thu giữ do Nguyễn Chí B tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone 14 promax, đã qua sử dụng (BL43)

Kết luận giám định ADN số 104 ngày 08/5/2024 của Trung tâm P kết luận như sau:

  • + Nguyễn Yến H1 có quan hệ huyết thống mẹ - con với người có tên dự kiến Nguyễn Đức T2, độ tin cậy 99,9999%.
  • + Nguyễn Chí B có quan hệ huyết thống bố con có tên dự kiến Nguyễn Đức T2, độ tin cậy 99,9999%. (BL39-40).

Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone 14 promax, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Chí B, do không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 07/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B đã trao trả cho B, B đã nhận lại điện thoại và không có ý kiến gì. (BL43)

Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Yến H1 và anh Nguyễn Kiều H2 (đại diện hợp pháp của cháu H1) yêu cầu Nguyễn Chí B bồi thường 150.000.000 đồng tiền chi phí sinh con và cấp dưỡng nuôi bé Nguyễn Đức T2 đến 18 tuổi.

Bản Cáo trạng số 206/CT-VKSBTL ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Chí B về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 - Bộ luật Hình sự.

3

Tại phiên toà:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Gia đình bị cáo tại phiên tòa đã bồi thường toàn bộ số tiền mà bị hại yêu cầu cụ thể là 50.000.000 đồng đã nộp vào Chi cục thi hành án quận Bắc Từ Liêm và đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội được về với gia đình và xã hội.

Đại diện bị hại anh H2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Chí B bồi thường 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) là tiền khám thai, siêu âm, xét nghiệm trong suốt thai kỳ, tiền đi sinh cháu bé, và chi phí tiêm phòng cho cháu từ khi sinh, yêu cầu bị cáo Nguyễn Chí B chu cấp cho cháu bé mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến khi cháu đủ 18 tuổi cụ thể:

18 năm x 12 tháng 1 năm = 216 tháng, 216 x 2.000.000 đồng = 432.000.000 đồng. Tổng số tiền bồi thường là 482.000.000 triệu đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị H3 – Vắng mặt có gửi Luận cứ bảo vệ cho bị hại: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của người dưới 16 tuổi. Tính chất mức độ phạm tội và hậu quả xảy ra là nghiêm trọng nên cần có biện pháp xử lý nghiêm để răn đe bị cáo và đảm bảo tính chất phòng ngừa tội phạm.

Từ thời điểm xảy ra sự việc đến nay. Bị cáo chưa hề tác động đến gia đình để xin lỗi hay bồi thường cho gia đình bị hại.

Hiện nay bị hại H1 còn nhỏ, còn đi học. Bị hại phải nuôi dưỡng cháu Đức T2. Do vậy về vấn đề bồi thường thiệt hại đề nghị bồi thường 50.000.000 đồng và cấp dưỡng cho cháu 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Vì những lẽ trên bà đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình cần xem xét đến mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện để đưa ra một bản án phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra đối với bị hại H1 nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng

4

điểm s, Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điểm a, d Khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí B từ 48 tháng đến 54 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của đại diện cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) là tiền khám thai, siêu âm, xét nghiệm trong suốt thai kỳ, tiền đi sinh cháu bé, và chi phí tiêm phòng cho cháu từ khi sinh, yêu cầu bị cáo Nguyễn Chí B chu cấp cho cháu bé mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về yêu cầu cấp dưỡng.

Xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Đề nghị tòa căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí HSST và án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Nguyễn Chí B và cháu Nguyễn Yến H1, SN 21/9/2008 có quan hệ yêu đương nam nữ. Trong khoảng thời gian từ ngày 13/6/2023 đến ngày 21/6/2023, Nguyễn Chí B và cháu Nguyễn Yến H1 tự nguyện giao cấu với nhau 03 lần (thời điểm B quan hệ tình dục với cháu H1, cháu H1 14 tuổi 8 tháng 23 ngày). Các lần giao cấu cháu H1 đều tự nguyện, không bị ép buộc hay đe dọa. Hậu quả dẫn tới cháu H1 có thai và sinh con vào ngày 09/3/2024, xét nghiệm ADN của bé Nguyễn Đức T2 xác định có quan hệ huyết thống cha – con với B, mẹ - con với cháu H1 độ tin cậy 99,9999%.

[2] Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 - Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, phù hợp với pháp luật.

[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu, đặc biệt, gây tác hại đến sự phát triển đạo đức, nhân cách của cháu H1, ảnh hưởng đến danh dự, phẩm giá của cháu H1 hiện tại và sau này, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực nhận thức hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được cháu H1 thuận tình là vi phạm pháp luật, mặc dù giữa bị cáo và bị hại có quan hệ tình cảm với nhau bởi bị hại là

5

đối tượng mà Nhà nước buộc phải bảo vệ. Việc trừng trị hành vi giao cấu với người dưới 16 tuổi cũng chủ yếu nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là sai nhưng vẫn cố ý phạm tội. Xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo tự thú, tự khai ra những lần quan hệ với bị hại, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của bị hại và đồng ý cấp dưỡng số tiền nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, r, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên. Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, cần xử bị cáo với mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành một công dân biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện cho bị hại có yêu cầu số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) là tiền khám thai, siêu âm, xét nghiệm trong suốt thai kỳ, tiền đi sinh cháu bé, và chi phí tiêm phòng cho cháu từ khi sinh, yêu cầu bị cáo Nguyễn Chí B chu cấp cho cháu bé mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến khi cháu đủ 18 tuổi.

HĐXX thấy yêu cầu của đại diện bị hại yêu cầu bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với yêu cầu của đại diện bị hại. Gia đình bị cáo đã bồi thường và nộp số tiền 50.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc từ Liêm theo biên lai số 0021609 ngày 16/9/2024. Bị cáo đã bồi thường xong. Về yêu cầu bị cáo Nguyễn Chí B cấp dưỡng cho cháu bé mỗi tháng 2.000.000 đồng/Tháng (Hai triệu đồng) đến khi cháu đủ 18 tuổi = 432.000.000 đồng là quá với khả năng của bị cáo cũng như không đúng với quy định của pháp luật, do đó yêu cầu của bị hại và đại diện bị hại đề nghị buộc bị cáo phải cấp dưỡng 432.000.000 đồng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đóng góp cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

[6] Về xử lý vật chứng: Không.

[7] Về đề nghị của Người bào chữa tại phiên tòa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị hại gửi bản Luận cứ bảo vệ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

6

[8] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí B 48 tháng đến 54 tháng tù là đánh giá chưa đầy đủ tính chất mức độ, động cơ, hoàn cảnh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như bị hại. Do đó HĐXX thấy cần xử mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điểm a, d Khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự; Điểm b, r, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí B phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt Nguyễn Chí B 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về dân sự: Anh H2 đại diện bị hại, bị hại được nhận số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền bồi thường thiệt hại do Bị cáo B đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo Biên lai số: 0021609 ngày 16/9/2024;

Buộc bị cáo Nguyễn Chí B cấp dưỡng cho cháu bé mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về yêu cầu cấp dưỡng khác.

Về xử lý vật chứng: Không.

7

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí B phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, Người đại diện bị hại, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, đại diện bị hại, bị hại
  • - VKSND Q. Bắc Từ Liêm
  • - VKSND thành phố Hà Nội
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm
  • - Bộ phận Thi hành án HS Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm
  • - Lưu HS-VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lý Kế Hiền

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 226/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí B phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger