TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 226/2023/HS-ST
Ngày 28 tháng 11 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn
Bà Nguyễn Thị Biên
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện-Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 218/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2023/QĐXXST- HS ngày 14/11/2023 đối với bị cáo:
Phạm Thị H, sinh năm 1947; Tên gọi khác: Không.
Nơi thường trú: Thôn N, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: Số nhà A, ngõ F, tổ dân phố H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hoá: 01/10. Giới tính: Nữ. Nghề nghiệp: Không. Bố: Phạm Văn N (đã chết). Mẹ: Vũ Thị T (đã chết). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ nhất. Chồng: Phùng Văn S, sinh năm 1960. Có 01 con sinh năm 1975.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định số 29 ngày 06/3/2023 của Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Nhân thân:
- Năm 1974, TAND thành phố Hà Nội xử phạt 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân.
- Năm 1979, TAND thành phố Hà Nội xử phạt 3 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản của công dân.
- Bản án số 68 ngày 07/5/1985 của TAND quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 6 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.
- Bản án số 370 ngày 07/12/1987 của TAND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.
- Bản án số 247 ngày 26/7/1995 của TAND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.
- Bản án số 197 ngày 26/4/1997 của TAND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 358 ngày 30/12/2004 của TAND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 149 ngày 23/7/2008 của TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 100 ngày 06/4/2016 của TAND thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 27/8/2016; thi hành xong án phí ngày 15/8/2017; đã được xoá án tích.
- Bản án số 63 ngày 01/6/2017 của TAND huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 8 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong án phạt tù ngày 21/4/2018; thi hành xong án phí ngày 15/8/2017; đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh B- Có mặt.
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ngách A, ngõ A, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- - Chị Giáp Thị T2, sinh năm 1971(vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Bà Thân Thị H1, sinh năm 1966(vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Lê Thị H2, sinh năm 1973(vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn R, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977(vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ ngày 02/9/2023, Phạm Thị H, sinh năm 1947, nơi ở hiện nay: Số nhà A, ngõ F, tổ dân phố H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang bắt xe bus đi từ huyện G, thành phố Hà Nội đến khu vực hiệu sách thuộc phường N, thành phố B rồi bắt xe ôm đến khu vực chợ K, phường D, thành phố B, mục đích xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, H đi đến chợ K vào khu vực quầy hàng bán nhãn của chị Giáp Thị T2, sinh năm 1971, trú tại thôn L, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Lúc này có một số người đang đứng mua nhãn. Hợi quan sát thấy chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1982, trú tại ngách A, ngõ A, đường L, phường D, thành phố B đang để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng tại túi quần bên phải nên đã nảy ý định trộm cắp. Hợi áp sát vào người chị T1, khi thấy chị T1 cúi xuống lấy chùm nhãn để hở chiếc điện thoại ra ngoài, H dùng ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay trái móc lấy chiếc điện thoại trong túi quần của chị T1 ra rồi cầm điện thoại sang tay phải cùng 01 chiếc túi bóng màu đen H cầm trước đó để không bị ai nhìn thấy rồi quay người bỏ đi thì bị chị T1 phát hiện, túm giữ tay H, do hoảng sợ nên H làm rơi chiếc điện thoại xuống nền đất. Ngay lúc đó, chị T1 tri hô người dân xung quanh và báo cho lực lượng Công an đến bắt quả tang và thu giữ vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng. Ngoài ra thu giữ của H: 01 chiếc túi bóng màu đen, số tiền 250.000 đồng, 01 chiếc khẩu trang bằng vải sọc caro.
Kết luận định giá tài sản số 169/KL-HĐĐG ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64GB, có số IMEI 353095103163153, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 02/9/2023 là 6.500.000 đồng.
Ngày 11/9/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho H thực nghiệm điều tra. Kết quả, H thực hiện thành thục hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động như đã khai nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, đã qua sử dụng cho chị T1, đến nay chị T1 không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Vật chứng vụ án: 01 chiếc túi bóng màu đen, số tiền 250.000 đồng, 01 chiếc khẩu trang bằng vải sọc caro thu giữ của H được nhập kho vật chứng theo quy định.
Bản cáo trạng số 230/CT-VKS ngày 04/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Phạm Thị H3 tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị H4 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của bị hại, người làm chứng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm o, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị H5 tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu 01 túi bóng màu đen, 01 chiếc khẩu trang bằng vải sọc caro để tiêu hủy, trả lại bị cáo số tiền 250.000 đồng.
- Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
- Án phí căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Thị H.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người này vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của bị hại, người làm chứng trong hồ sơ và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.
[3]. Về tội danh lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 02/9/2023, tại khu vực quầy bán nhãn tại chợ K, phường D, thành phố B; Phạm Thị H có hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Thị Bích T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, đã qua sử dụng trị giá 6.500.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Phạm Thị H6 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự về an ninh tại địa phương và dư luận quần chúng nhân dân lên án, vì thế hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.
[5]. Đánh giá về nhân thân và mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 06/3/2023 của Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngoài ra bị cáo còn nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương nơi cư trú bị cáo không nhận thức được việc làm của mình mà vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp không có giá trị lớn và đã được thu hồi trả lại bị hại, vì vậy cần có một mức án là hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[6]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[7]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, phạm tội thuộc trường hợp là người từ đủ 70 tuổi trở lên đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8]. Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, đã qua sử dụng cho chị Nguyễn Thị Bích T1, nay chị T1 không có yêu cầu bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về phần dân sự.
[9]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền bị cáo là người cao tuổi, không có nghề nghiệp, do vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[10]. Về vật chứng trong vụ án gồm: 01 túi bóng màu đen, 01 chiếc khẩu trang bằng vải sọc caro không có giá trị cần để tiêu hủy, đối với số tiền 250.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
[11]. Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị H7 (B) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 02/09/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
- Về vật chứng: Tịch thu 01 túi bóng màu đen, 01 chiếc khẩu trang bằng vải sọc caro để tiêu hủy, trả lại bị cáo số tiền 250.000 đồng.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Thị H.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
Bản án số 226/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 226/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
